Môi trường là gỉ? Nó bao gồm các yếu tố tự nhiên (như đất, nước, không khí..) và yếu tố vật chất nhân tạo (như nhà máy, đập nưóc, cơ xưởng..) ở xung quanh sinh vật, có tác dộng trực tiếp, gián tiếp hoặc tác động qua lại tới sự tồn tại, sinh trưởng, phát triển của sinh vật. Những vấn đề cấp bách về môi trường cần phải đối phó hàng ngày như ô nhiễm nưóc, ô nhiễm tiếng động, ô nhiễm không khí, trong một khung cảnh đất hẹp, người đông đã tạo nên sức ép trên tài nguyên thiên nhiên. Khung cảnh sống thay đổi .. Những danh từ mới về khoa học môi trường đua nhau xuất hiện như sinh khối (biomass), kiểu sinh học (biotype), sinh cảnh (biotope), quần xã sinh vật (biome), hệ sinh thái (ecosystem), ổ sinh thái ( ecological niche), dấu chân sinh thái (ecological footprint), đa dạng sinh học (biodiversity), bền vững (sustainability), lỗ hổng ozon, sự sưởi ấm toàn cầu (global warming), tái chế biến (recycling).
Các vấn nạn môi trường có tính cách chung cho toàn thế giới: các nưóc giàu có thì tiếng động, mưa acit, khí nhà kiếng; các nước nghèo, chậm phát triển thì phá rừng, nhân mãn; tóm lại với hành tinh càng ngày càng nhỏ bé và không còn hành tinh nào khác ngoài Trái Đất có điều kiện sinh sống nữa, con người nhận ra là bảo vệ môi trường là việc chung của nhân loại. Vào năm 1992, tại Rio, nhiều xứ họp lại để ký bản thoả ước về bảo vệ tài nguyên trên trái đất, sau đó tại Kyoto lại họp bàn về giới hạn các sự phát thải các khí độc trên bầu trời..
Các tổ chức bảo vệ môi trường ra đời, đặc biệt nhất là tổ chức phi chính phủ Green Peace. Rồi ngày Earth Day xuất hiện, trong đó nhiều công dân đứng ra tổ chức vận động các chính phủ khuyến cáo các nhà lãnh đạo về năng lượng sạch (mặt trời, gió ..), tiết kiệm năng lượng, phát triển bền vững. Phát triển bền vững trong môi sinh là một vấn đề liên ngành vì nó liên quan đến nhiều thông số của trái đất: giáo dục, kinh tế, dân số, an toàn lương thực, bảo vệ môi sinh; do đó tiếp cận nhiều chiều kích nhằm tìm toàn bộ các khía cạnh văn hoá, môi sinh, kiến thức bản địa, kinh tế .. để cứu xét vấn đề, ngày nay đã trở nên thông thường.
2. Các hệ sinh thái
Hệ sinh thái bao gồm cả quần thể với môi trường quanh ta
Cả ba yếu tố nước, đất, không khí có tác động hỗ tương lên nhau.
Các sinh vật trên đất gồm giới thực vật rừng dày, rừng thưa, thảo nguyên, giới động vật chim muông cầm thú ăn cỏ và ăn thịt và một giới khác ít người nói đến nhưng rất quan trọng là giới vi cơ thể nó tái chế biến các phế thải động vật và thực vật. Cả ba giới thực vật, động vật, phân hủy cũng có tương quan và tác động lên nhau .
Ví dụ:
3. Các chu kỳ lớn trên trái đất
Có nhiều tương quan giữa các yếu tố trong các hệ sinh thái : năng lượng mặt trời , một phần đến được trái đất, nhưng phần khác lại bị phản chiếu lên trời lại; riêng ở trên trái đất thì nhiều chu kỳ cùng xẩy ra như chu kì nước, chu kì cacbon, chu kì nitơ, chu kì lưu huỳnh.
3.1 Chu kỳ Cacbon
Rừng cây, nhờ diệp lục trong lá cây và nhờ ánh sáng nên hút được các chất dioxit cacbon trong không khí để tạo nên các hydrat cacbon (đường, tinh bột..) và phóng ra trong không khí chất oxỵ Ngược lại, các động vật phải hút chất oxy qua sự hô hấp và nhả ra chất dioxit cacbon để dùng lại cho sự quang hợp. Các phế thải đông vật và thực vật lại được tái chế biến bởi vi cơ thể. Trong nước ( nước sông, nước biển), cacbon ở dạng cacbonat và bicacbonat cũng là nguồn cung cấp cacbon cho qúa trình quang hợp.
Chu kỳ như vậy cũng nhịp nhàng qua 4 mùa :mùa xuân cây lá nhởn nhơ, ong bướm chập chờn,..mùa hè, nắng nhiều, cường độ quang hợp mạnh, lá cây hút mạnh chất dioxit cacbon; mùa thu với ‘rừng phong thu đã nhuốm màu quan san’ và mùa đông, khí trời lạnh lẽo, nên lá rơi lả tả mục dần, tạo thành thảm chất hữu cơ, chất này sẽ cho lại các chất khoáng chứa các chất Ca, Mg, K bồi dưỡng lại cho cây. Như vậy, ta thấy hữu cơ đi liền với vô cơ.
3.2 Chu kỳ nướcNước luân lưu từ mưa, mưa rơi xuống, nuôi cây cối, giúp tái tạo nước ngầm, một phần nước chảy tràn xuống suối, sông đổ ra biển, biển bốc hơi gặp lạnh, ngưng lại tạo thành mây; mây trôi gặp lạnh tạo ra mưa:
Nước trôi ra biển lại mưa về nguồn
Nước non hội ngộ còn luôn
3.3 Chu kỳ đạm
Chất đạm liên quan đến cacbon; chất đạm trong bầu trời bị khoáng hoá thành đạm vô cơ như nitrat và ammonium; đạm vô cơ do rễ cây hút để nuôi cây và khi cây chết sẽ tạo ra chất mùn. Chất mùn chứa đạm hữu cơ rồi bị đổi thành đạm vô cơ và cứ tiếp tục như vậy. Đất thoáng khí có các vi khuẩn Nitrobacter hoặc Nitrosomonas, nhờ vậy, các ion ammonium được biến thành nitrat nuôi cây cối ; đất yếm khí (như đất trồng lúa nước) thì vì không có không khí nên nitrat bị các vi khuẩn khử nitrat biến chúng thành các hợp chất như N2O (nitrous oxide), chất này bay lên không trung, gặp mưa tạo thành mưa acid. Sấm sét trên trời cũng phóng ra chất đạm trong không khí
3.4 Chu kỳ lưu huỳnh
Lưu huỳnh có trong đất dưới dạng hữu cơ ; bị khoáng hoá thành dạng vô cơ nuôi cây; cây chết đi, tạo lại lưu huỳnh hữu cơ. Nhiều nhà máy chạy bằng than đá hay dầu cặn khi phun khói lên nhả ra SO2, chất này gặp mưa thành acid sulfuaric. Đất phèn chứa nhiều lưu hùynh, đất trở nên chua (‘Quê hương em đất mặn đồng chua’).
Khi ta phân loại ra các chu kỳ cacbon, đạm, lưu huỳnh như trên là cũng chỉ để phân tích ra cho dễ hiểu mà thôi vì trên trời đất này, mọi chu kỳ trên đều ảnh hưởng tương tác lên nhau. Hãy đọc Bà Huyện Thanh Quan:
Dừng chân đứng lại: trời, non, nước
Một mảnh tình riêng ta với ta
Chỉ có hai câu thơ cổ điển trên mà bao gồm mọi yếu tố môi sinh: nào là dừng chân trên đất (thổ quyển), nhìn trời tức mây trôi, gió thổi (khí quyển), nhìn non tức là núi có đá là căn nguyên của đất (thạch quyển), nhìn nước tức sông suối, biển (thủy quyển) và sinh vật, tức tác giả bài thơ (sinh quyển).
4. Khí hậu như một yếu tố môi trường
Khí hậu là gió, mưa, giông bão, nó tác động lên nhiều yếu tố môi sinh khác như đất đai, hoa màu, nước, sông ngòi, xói mòn, sập lở. Trong văn học dân gian, có vô vàn những câu tục ngữ, ca dao đúc kết các kinh nghiệm của nông dân vì nông dân phụ thuộc nhiều nhất vào khí hậu trong công việc đồng áng:
Trông trời trông đãt trông mây
Trông mưa trông gió trông ngày trông đêm
Xưa kia, chưa có những công trình thủy lợi nên nông dân không chủ động được nước, do đó, người dân kinh nghiệm rằng:
Mồng chín tháng chín có mưa
Thì con sắm sửa cày bừa làm ăn
Mồng chín tháng chín không mưa
Thì con bán cả cày bừa đi buôn
Thời gian chiếu sáng của mặt trời, nghĩa là bức xạ cũng ảnh hưởng đến năng suất cây trồng: mùa hè, ngày dài hơn mùa đông, do đó, sự quang hợp mạnh hơn, cây cối nẩy nở mạnh hơn:
Tháng năm chưa nằm dã dậy
Tháng mười chưa cười đã tối
Mùa đông thì ‘hôm nay lạnh, mặt trời đi ngủ sớm’ (Xuân Diệu)
5. Nước như một yếu tố môi trường
Tục ngữ ta có câu: ‘Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống’ đủ thấy ngay tầm quan trọng của yếu tố nước.
Văn hoá nước ta là một nền văn hoá lúa nước; trồng lúa thì phải có nước và ngay từ đời thượng cổ, tổ tiên ta đã biết lợi dụng nước thủy triều lên xuống để cấy lúa. Đất nước quyện vào nhau mới trồng lúa nước được mà nhờ lúa nước đòi hỏi một dân số đông đảo, dân Việt mới Nam tiến được, khai phá cả các vùng sình lầy ở Thủy Chân Lạp trong khi người Miên chỉ sống trên dất giồng cao ráo. Cây lúa đòi hỏi nhiều nhân công.
Nhiều lễ hội cổ truyền đã phản ánh cách làm ăn, cày cấy, ước mơ mùa màng tươi tốt. Nào là lễ rước nước, lễ cầu mưa ..Các vua nhà Lý cũng như nhà Trần với tinh thần trọng nông còn tổ chức lễ tịch điền trong đó nhà vua đích thân cầm cày xuống ruộng.
Chất lượng của nước tạo ra nhiều khung cảnh môi sinh khác nhau: ùng đất có nưóc ngọt, vùng đất có nưóc lợ, vùng đất có nước phèn, vùng đất có nước mặn
6. Thảo mộc như một yếu tố môi trưòngĐồng bằng châu thổ sông Hồng trưóc kia toàn là rừng với đầm lầy; vì chỉ mới lồi ra khỏi biển chừng 7000 năm về trước, nên với sự trầm tích của các phù sa, lúc đó châu thổ mới có nhiều rừng ngập mặn hoặc rừng đầm lầy (swamp forest). Thực vậy, sách Hậu Hán Thư mô tả như sau: ‘dưới thì nước, trên thì mây mù, khí độc bốc lên ngùn ngụt’, với sự xuất hiện của rừng giúp sự trầm tích phù sa được lắng tụ dần, tạo nên một nền nông nghiệp phồn thịnh, kinh tế trù phú khiến văn hoá có nhiều điều kiện thuận lợi để phát sinh. Rừng Trường Sơn giữ đất chống xói mòn, bớt ngập lụt ở hạ lưu, nhưng nay chỉ còn ‘những đồi hoa sim, những đồi hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt’; các vùng có núi đá vôi như ở Ninh Bình với nhiều hình dáng kì vĩ với
‘Có suối nước trong tuôn róc rách
Có hoa bên suối ngát đưa hương’
Thảo mộc thiên nhiên khác xa, tùy theo điều kiện môi trường; thực vậy, cây cối phụ thuộc nhiều vào đất và nước. Các đỉnh đồi thì nước trong đất không nhiều nên thảo mộc phải chịu đựng các điều kiện khô khan: loài thông có lá hình kim nên ít thoát hơi thường thích nghi với các khó khăn về ẩm độ đất (soil moisture); các đất hồ ao thì thảo mộc thiên nhiên là loài sen:
Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
mà sen có lá rộng giúp cho sự thoát hơi nước được dễ dàng. Ven hồ ao, có nhiều cây liễu, ‘rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang, tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng’
7. Núi như một yếu tố môi trường
Các khối núi có ảnh huởng lớn đến khí hậu: dãy Trường Sơn ảnh hưởng đến khí hậu miền Trung, dãy Hoàng Liên Sơn tác động trên khí hậu miền Bắc. Cùng một dãy núi, nhưng sưòn Đông và sườn Tây cũng có thể có những loại khí hậu khác nhau: Đông Trường Sơn tức phía bên Việt Nam có nắng vào mùa hè với gió Lào thổi khô nóng trong khi dãy Tây Trường Sơn mùa hè là lúc gió mùa Tây Nam thổi đến đem theo từng cơn mưa .
8. Tài nguyên và các vấn nạn ô nhiễm môi trường
Các vấn nạn môi trường có thể kể : phá rừng; thoái hoá đất; thiếu nước ngọt vào mùa náng; lạm thác các tài nguyên sinh học; đe doạ các hệ sinh thái; ô nhiễm trầm trọng tăng lên
8.1 Phá rừng:
Rừng Việt Nam bị đốn phá qúa mức do nhiều yếu tố như dân đông, du canh, lạm thác rừng. Rừng là nơi cản bớt sự xói mòn đất, giúp làm chậm giòng chảy nước tràn, giúp điều hoà nguồn nưóc, bảo toàn đa dạng sinh học, cải tạo môi trường đất, có tác dụng nâng cao độ phì nhiêu của đất . Với sự phá rừng, các nơi trú ẩn của các loài động vật hoang dã càng ngày càng nhỏ dần nên chim muông, thú hoang càng ngày càng hiếm..Đồi trọc càng ngày càng nhiều:
Khổ chi phận em cha chả là cam phận khổ
Lên non đốn củi, đụng chỗ đốn rồi !
Xuống sông gánh nước
Đụng chỗ cát bồi, khe khô!
Phá rừng nên chim không còn nơi trú ẩn, vắng hẳn tiếng hát líu lo của chim; nhiều loài thực vật biến hẳn do phá rừng và nhiều loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng như cọp, nai, voi
Hiện nay, nhiều vùng như vùng Tây Bắc (Sơn La, Lai Châu) rừng chỉ còn khoảng 10% tổng diện tích đất đai tự nhiên, trong khi tỷ lệ che phủ các vùng núi cao đầu nguồn phải cao (50-70%) mới bớt được lụt lội . Tại miền Trung, các dòng sông thường ngắn và có một lưu vực hẹp. Do đó, nước sông lên rất nhanh. Mùa lụt đi sát với mùa mưa lớn, vào tháng 11, cùng với các trận bão nhiệt đới thổi từ Thái Bình Dương . Câu tục ngữ của dân gian cũng nói lên điều ấy:
`Ông tha mà bà chẳng tha, làm cho cái lụt 23 tháng mười‘.
Vì lưu vực các dòng sông thường nhỏ và độ dốc lưu vực rất lớn nên mưa xuống làm nước mưa dâng cao rất nhanh. Lũ lụt thường đến bất thình lình và thay đổi tùy năm.. Có lúc mưa bão gây ra một lượng mưa rất lớn, có thể vài trăm mm trong 24 giờ . Ảnh hưởng của giãy núi cũng gây ảnh hưởng. Một phần thì rặng núi gần đồng bằng, mặt khác, núi có triền dốc rất lớn, nên vận tốc của dòng chảy cũng rất mạnh.
Vậy để giảm thiểu, cần kết hợp giữa việc xây dựng các công trình chống lũ với việc trồng rừng để làm chậm nuớc lụt. Có thể kết hợp trồng rừng và cây ăn qủa ở nơi đất tốt để vừa có hiệu qủa kinh tế nhanh, cao và không làm hại môi trường. Trồng rừng bạch đàn (Eucalyptus) thuần loại sẽ làm suy thoái môi trường đất . Bảo vệ rừng có nghĩa tăng cường giáo duc về môi sinh, trồng cây gây rừng, chống nạn cháy rừng, trồng ở các thung lũng để giảm bớt sức ép trên các đất dốc, đó là chưa kể giáo dục nâng cao dân trí để chương trình kế hoạch hoá sinh đẻ thực hiện hiệu qủa hơn. .
8.2 Thoái hoá đất:
Dưới danh từ thoái hoá đất, có thể gom lại các vấn nạn như sa mạc hoá, bờ biển bị xâm thực, đất dốc bị xói mòn, sụp lở bờ sông
Vì nuớc ta nhiều đồi núi hơn đồng bằng và hơn nữa, phần lớn núi đồi lại là đồi trọc ít cây cối, thêm vào đó là vũ lượng rất lớn nên xói mòn nặng nề, do đó mất phì nhiêu Xói mòn phụ thuộc vào nhiều thông số như chiều dài của độ dốc, độ dốc nhẹ hay nặng, độ che phủ thực vật. Xói mòn trên các lưu vực sẽ làm các hồ chứa nước bị lắng tụ rất nhanh và làm lòng sông cạn dần, khiến lưu lưọng nước chảy ít đi. Nên có nông lâm kết hợp, nghĩa là trồng cây lương thực với cây rừng hoặc với cây công nghệp lâu năm như chè, cà phê, cao su, hoặc các cây che phủ đất để chống khô hạn . Nếu cọng thêm các biện pháp công trình (bực thềm, hố ), xây dựng các hồ chứa nưóc để điều tiết lượng nước tưới thì đất đai sẽ bớt bị thoái hoá.
8.3. Thiếu nước ngọt vào mùa nắng:
Mùa nắng, lưu lượng các dòng sông miền Trung không nhiều và thêm tưới nước ruộng đồng cho hoa màu nên nước biển xâm nhập sâu lên thượng nguồn, làm nước sông bị nhiễm mặn, gây trở ngại cho sinh hoạt vì dân không có nước ngọt. Thêm vào đó, đất phù sa ven sông cũng bị nhiễm mặn không trồng trọt được.
Hiện nay nước ta tập trung qúa nhiều vào đánh cá ven bờ, không có ngư thuyền đánh cá xa bờ nên tài nguyên cá dễ bị cạn kiệt. Ngoài ra, phải xác định mức độ khai thác, chọn vùng khai thác để bảo tồn các sinh vật biển có giá trị đang là đối tượng khai thác như rùa biển.
San hô, đồi mồi cũng bị tàn phá. Diệt rắn diệt chim làm chuột và côn trùng sinh sôi nẩy nở thêm .
Tại miền châu thổ sông Hồng, con cà cuống càng ngày càng ít đi vì sử dụng nhiều thuốc sát trùng quá liều lượng, ngay cả ‘chuồn chuồn có cánh thì bay’ cũng hiếm đi.
Trên sông ngòi thì có đủ mọi hạng người đánh cá khác nhau: người dùng thuốc nổ, người rà điện, kẻ đánh thuốc, do đó cá mới sinh chưa kịp lớn đã chết rồi ! Thêm vào đó có kẻ bị chết vì cưa đầu đạn lấy thuốc đánh cá, có người sơ sẩy khi dùng qủa nổ cũng chết
8.5 Ô nhiễm tăng lên
Các nguồn ô nhiễm dất bao gồm phân hoá học, thuốc trừ sâu, chất thải công, nông nghiệp. Trong nông nhiệp, có thể kể sản phẩm thải bỏ các nhà máy thực phẩm đóng hộp, lò sát sanh, sản phẩm bài tiết của các trại chăn nuôi lớn. Trong công nghiệp, ngoài những rác thải thông thường như bao nilông, cao su, thủy tinh, ve chai, đồ kim loại, còn phải kể các rác thải nguy hiểm (hazardous wastes) như các chất dễ cháy, phóng xạ, chất nổ.
Phân hoá học càng ngày càng được sử dụng nhiều để đảm bảo an toàn lương thực và xuất cảng. Nhưng muốn giảm thiểu tác động lên môi trường, phải sử dụng cân đối, đúng lượng, đúng kỳ, hạn chế các tổn thất do bay hơi, rửa trôi.
Thuốc bảo vệ thực vật cũng giúp tăng sản lượng nông nghiệp nhưng nếu sử dụng qúa liều lượng sẽ gây nên nhiều hậu qủa: cá, tôm, tép trong ruộng bị giảm hẳn, cua, ốc, ếch, nhái, rắn cũng càng ngày càng hiếm. Ô nhiễm các loại thuốc bảo vệ thực vật sinh ra ngộ độc rau cải.
Do khói bụi các nhà máy công nghiệp sắt thép, than đá, ximăng v.v., do hàng vạn xe gắn máy chạy bằng xăng có pha chì, ô nhiễm không khí càng ngày càng trầm trọng khiến trẻ em suy nhược cơ thể. Các nhà máy không có thiết bị lọc bụi. Kèm theo bụi là khí SO2 gây tác động xấu đến sức khoẻ con người, gây các bệnh viêm kết mạc, co thắt phế quản, viêm mũi, viêm họng ..Dân cư sống ở những khu vực ô nhiễm nặng đều mắc các bệnh về đường hô hấp.
Muốn bảo vệ môi trường không khí thì phải trồng nhiều cây xanh ven đường, sân chơi, phải có nhiều công viên trong thành phố, quanh các khu kỷ nghệ, giảm bớt hút thuốc lá trong nhà hay tại các khu công cọng; sử dụng phương tiện công cọng chuyên chở . Các biện pháp vật lý như sử dụng các thiết bị lọc và làm sạch khí thải từ các nhà máy (thiết bị lọc bụi, thu khí xoáy, lắng tĩnh điện..). Các năng lượng mới như năng lượng sức nước, sức gió, Mặt Trời cũng là các năng lượng ít ô nhiễm.
Ô nhiễm nước do nước thải sinh hoạt con người tại các khu dân cư và nước thải từ các cơ sở công nghiệp chưa dược xử lý thường được đổ thẳng vào kinh rạch, sông ngòi. Nhìn chung, có thể nói là các nguồn ô nhiễm bao gồm các nguồn điểm (point souce) và diện (non-point source). Các nguồn điểm như hệ thống thoát nước, các kỹ nghệ như chế biến thục phẩm, dệt nhuộm, giấy v.v.còn các nguồn diện bao gồm các hoạt động nông nghiệp, nuôi cá, các khu dân cư không tập trung, giao thông trên sông ngòi, các công trường xây dựng. Nước ngầm cũng bị ô nhiễm do sự rữa trôi phân hoá học, thuốc trừ sâu, nước thải sinh hoạt hoặc từ nước rò rỉ từ các bãi rác.
Với sự đô thị hoá, rác thải càng ngày càng trở nên trầm trọng vì bãi rác còn gây ô nhiễm không khí và nguồn nước vì nước mưa ngấm vào bãi rác tạo thành nước rò rỉ chứa các yếu tố độc hại gây ô nhiễm môi trường nước ngầm và đất, chưa kể đó là nơi sinh đẻ ruồi muỗi, tăng thêm nguy cơ dịch bệnh thương hàn, dịch tả, lị v.v. Ô nhiễm nước trong sông rạch làm giảm sự đa dạng sinh học với nhiều loài cá trong sông không thể sống được.. Và như vậy số lượng nước có thể sử dụng cho sinh hoạt bị mất đi.
9. Kết luận
Môi trường sống của nước ta bị nhiều chấn thương quan trọng do nhiều nguyên nhân: cơ chế pháp lý còn lỏng lẻo nên mới có lâm tặc, sa tặc, thạch tặc; dân đông nên diện tích đất nông nghiệp càng ngày càng giảm. Đất hẹp, người đông mà nếu đất không được sử dụng hợp lý thì con ngưòi tự làm hại đến mình: đất thoái hoá thêm, nghèo thêm , gây ảnh hưởng dây chuyền đến an toàn lương thực.
Từ những nền văn hoá cổ truyền có gốc văn hoá nông nghiệp, ngày nay, nẩy sinh ra, theo đà đô thị hoá, những cuộc sống máy móc, xa rời thiên nhiên; nạn phá rừng, cuộc sống xô bồ với tiếng xe hàng vạn Honda gắn máy điếc tai nhức óc suốt ngày càng làm cho con người xa lìa sự cảm thông với vũ trụ, không còn được nghe tiếng sáo diều trong đồng vắng, không còn thấy trăng lên với cảnh ' đêm qua ra đứng bờ ao, trông cá cá lặn, trông sao sao mờ', không còn cảm nhận các cảnh' sông dài trời rộng bến cô liêu ' và cuộc sống đô thị, thì nhà nào biết nhà đó, chỉ lo bon chen, tiêu thụ qúa sá, mà không nhận ra cái kiếp mong manh của kiếp người, cái mong manh của hạnh phúc thoáng qua 'đời sao im vắng, như đồng lúa gặt xong, người về soi bóng mình, giữa tường vắng lặng câm' , do đó chúng ta nên tỉnh thức để sống, bớt tiêu thụ, biết đủ là đủ. Qua các thơ văn trong văn học Việt, ta thấy luôn luôn đề cao vai trò của môi sinh, từ tạo hoá, sông núi, thác nước .. Ngày nay, giáo dục môi sinh trong học đường rất cần thiết; những thơ văn, ca dao, tục ngữ giúp trẻ em học sinh hiểu nhanh hơn vai trò của con người trong các hệ sinh thái nhằm bảo vệ chung trái đất.
Trái đất này là của chung, mọi việc đều liên quan đến nhau: khí dioxyt cacbon trên khí quyển là một khí không biên giới; bầu không khí O3 (ozone) là không biên cương. Nó không tuân thủ các ranh giới hành chánh của các chính phủ .Môi sinh có thể nhìn dưới dạng vĩ mô hay vi mô . Trên cương vị vĩ mô, đó là trái đất, là một xứ, trên phạm vi vi mô đó là một quả đồi, một thung lũng, một dòng sông, một cái hồ. Giáo dục cho mọi người về sự cần thiết của niềm đồng cảm giữa người và vũ trụ, tình gắn bó giữa con người với thiên nhiên để con người yêu thêm thiên nhiên, tạo vật, tìm lại mây trời hiền hoà, màu xanh của nước và của núi rừng, nói theo danh từ thời đại là green awareness. Giáo dục cho mọi người các vấn đề nóng bỏng của thời đại, các vấn nạn môi sinh, sự bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ qũy gen (gene pool), phát triển bền vững . Cũng có thể sử dụng mô hình các hệ sinh thái để giúp sinh viên hiểu và suy nghĩ theo tư duy hệ thống các ảnh hưởng qua lại của các yếu tố môi sinh và từ đó thấy sự cần thiết có một sự hài hoà giữa dân số và thiên nhiên, hài hoà giữa thiên nhiên và phát triển kinh tế, một sự hài hoà mà chính hệ thống triết học Á Đông luôn luôn đề cao.