ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LỜI MỞ ĐẦU:
Công trình xây dựng đê biển chống mặn dọc duyên hải Đồng Bằng Sông Cửu Long
(ĐBSCL) có tác dụng trực tiếp đến hơn 20 triệu cư dân ĐBSCL và ảnh hưởng đáng
kể đến toàn dân Việt nam.
Một công trình có tầm vóc quốc gia như vậy đòi hỏi nổ lực của cả dân tộc, dựa vào nghiên cứu của những bộ óc ưu việt, những kiến thức kỹ thuật tân tiến, và quyết tâm chính trị đúng mức của nhà nước.
Ý thức rằng khả năng và phương tiện giới hạn, bài viết của chúng tôi chỉ nhầm mục đích là gợi ý, đưa ra một ý kiến về phương pháp chống lại sự xâm nhập của nước biển. Chúng tôi hy vọng tiếp theo sẽ có những nghiên cứu khoa học đứng đắn, với phương tiện kỹ thuật, do những chuyên viên cố vấn trong và ngoài nước đảm trách, tìm cách đối phó với vấn đề ngập mặn, bảo vệ ĐBSCL trong kế hoạch phát triển bền vững cho toàn lưu vực. Nhiên cứu này phải dựa vào những cái nhìn tổng thể về môi trường, quy hoạch kinh tế và hệ thống sinh thái của cả ĐBSCL.
DẪN NHẬP:
Con người đã sinh sống hàng ngàn năm tại Đồng Bằng Sông Cửu Long . Trước hết là người Phù Nam, sau đó là người Khmer, và hiện nay là người Việt Nam. Trong suốt chiều dài lịch sử, những cơn mưa lũ, bão tố và chiến tranh đã đến và đi, đời sống cư dân vẫn không thay đổi. Họ vẫn sinh sống dựa vào đất đai phì nhiêu và con sông Cửu Long dài 4.750 km, cho đến thế kỷ 20.
Từ đầu thế kỷ 20, khoa học và kỹ thuật đã được con người phát triển nhanh chóng. Những thành tựu này phần lớn là dựa vào sự tiêu thụ dầu hỏa và than đá, mà kết quả là sự thải ra khí CO2. Sự hiện diện của khí CO2 đã làm tăng nhiệt độ của bầu khí quyển. Những lượng băng hà ở 2 cực Nam và Bắc của trái đất, và tại các cao nguyên giá lạnh đã tan dần, nước biển tăng nhiệt độ làm mực nước biển dâng cao thêm.
Thêm vào đó, các đập ở thượng nguồn sông Cửu Long do Trung Quốc và Lào xây dựng có nhiều hồ chứa nước dung tích rất lớn và việc chuyển ra khỏi lưu vực tưới tiêu giảm lưu lượng nước ngọt chảy xuống hạ lưu.
Trước đây, lũ kéo về sau mùa mưa hằng năm từ thượng nguồn đã giúp đẩy nước mặn ra biển. Từ khi khởi động, những đập này đã giữ nước lại cho mực hồ chứa có đủ cao độ chạy máy điện, nên lượng nước chảy xuống ĐBSCL đã giảm đi, cộng với tác động tiêu cực của việc phá rừng, chuyển nước ra khỏi dòng chính, và biến đổi khí hậu làm vũ lượng đang giảm dần. Nước biển dâng và nước từ thượng nguồn sông Cửu Long chảy xuống ít đi, nước mặn đã xâm lấn dần vào ĐBSCL.
Một hiểm họa khác từ các đập do Trung Quốc xây là lượng phù sa giảm đi. Phù sa từ cao nguyên Tây Tạng theo dòng song Cửu Long chảy ra biển, hằng năm giúp mũi Cà Mau bồi thêm ra biển Đông. Thiếu phù sa hằng năm, bờ biển Việt Nam, điển hình là mũi Cà Mau, gần đây đã có dấu hiệu sạt lở.
Với các mối họa trước mắt này, Việt Nam không có lựa chọn nào khác hơn là
lập một đại quy hoạch xây dựng đê chống sự xâm nhập của nước mặn cho ĐBSCL.
Phạm vi bài này có giới hạn, chúng tôi chỉ đề cập đến kế hoạch xây đê dọc theo
duyên hải Nam Việt để đối phó và thích ứng với tình trạng nước biển dâng cao
do hiện tượng hâm nóng toàn cầu.
Đây là công trình xây dựng một hệ thống đê biển, chạy dọc theo bờ biển Việt
Nam, từ Gò Công, vòng qua mũi Cà Mau đến Hà Tiên.

Hình 1: Vị trí của đê biển và độ sâu của biển1
CẤU TRÚC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG (ĐBSCL)
ĐBSCL thường được coi là bắt đầu từ Phnom Penh, được hình thành bởi phù sa của sông Cửu Long. Sông Cửu Long phát nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, chảy dài 4750 km ra đến biển Đông.
Hạ lưu sông Cửu Long nuôi sống 60 triệu cư dân. Số lượng phù sa hằng năm là 160 triệu tấn1. So với những đồng bằng khác, ĐBSCL tương đối có một diện tích lưu vực (watershed) nhỏ, nhưng lượng phù sa thì rất đáng kể, tương đương với đồng bằng sông Dương Tử. Chính số lượng phù sa này đã tạo ra ĐBSCL.
ĐBSCL có diện tích 62,500 km2. Đứng thứ ba trên thế giới, chỉ sau đồng bằng Amazon và sông Hằng (Ganges). Sự hình thành của ĐBSCL bắt đầu 6000 năm trước. Trong thời gian này, bờ biển đã di chuyển 270 km từ Phnom Penh cho đến vị trí hiện tại, với tốc độ 16 m một năm. Hầu hết vùng này thấp, cao hơn mặt biển không đến 5 m.
Phù sa di chuyển ra biển được tích tụ lại các cửa sông trong mùa mưa, và được
tiếp tục mang đi dọc theo bờ biển về hướng tây- nam theo gió mùa vào mùa khô.
Cuộc khảo cứu của Xue et al1 cho thấy là độ dốc ra hướng biển khá phẳng, từ
0.8:1000 tại Zone II đến 5.0:1000 tại zone III.
| Zone | Độ dốc |
| I | 2.5:1000 |
| II | 0.8:1000 |
| II | 5.0:1000 |
| IV | 1.0:1000 |
Cũng theo công trình nghiên cứu trên, trung bình 25% đất ở đáy biển là đất
sét, 65% là silt, và phần còn lại là cát.
Thủy triều thay đổi từ 0,50m- 0,80m ở vịnh Thái Lan, và 3,50m- 4,50m ở biển
Đông.

Hình 2. Diễn tiến của sự hình thành ĐBSCL1
Diễn biến này bồi đắp duyên hải từ ngàn năm trước đang có khuynh hướng thoái bộ. TS Tô Văn Trường gần đây thông báo mũi Cà Mâu đang bị biển nuốt chửng, và từ năm 1975 đến nay, vùng ven sông Cần Giuộc đã lở 200 m đất.