viet ecology
Article Page
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN QUAN TÂM CÁC TÁC ĐỘNG DỰ ÁN FUNAN TECHO Ở CAMBODIA ĐẾN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
PGS.TS LÊ ANH TUẤN

BÁO CÁO THẢO
Phiên bản 23/4/2024 1


1. BỐI CẢNH

Ngày 22/9/2023, Cục Quản lý Tài nguyên Nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường (2023)2 có gởi một công văn đến Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam và trường Đại học Cần Thơ về việc mời tham gia đánh giá tác động của Dự án xây dựng tuyến giao thông thủy của Campuchia đến vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL). Trong công văn đề nghị các đơn vị tham gia tính toán, đánh giá tác động xuyên biên giới của Dự án đến vùng ĐBSCL và gởi kết quả về Cục trước ngày 25/10/2023. Công văn này không đính kèm các tài liệu của Dự án.

Tuy nhiên, các đơn vị cũng đã thu thập được một số tài liệu từ VNMC gồm: tài liệu của Ủy ban Sông Mekong Quốc gia Cambodia – CNMC (2023)3 gởi Dr. Anoulak với tiêu đề là The Inland Waterway Project “Funan-Techo Canal” (Dự án Đường thủy Nội địa “Kinh đào Funan-Techo”), tài liệu dạng file dày 14 trang, trong đó phần tài liệu kỹ thuật của dự án là 12 trang với 2 trang là bản đồ vị trí và 6 trang là bản vẽ kỹ thuật cửa chặn nước (01) và cầu vượt bê tông (5 bản).

Ngày 06/9/2023, Tổng cục Khí tượng Thủy văn (2023)4 đã có một báo cáo 4 trang với tiêu đề “Đánh giá sơ bộ tác động của tuyến đường thủy nội địa Campuchia đến nguồn nước vùng đồng bằng sông Cửu Long”. Trong báo cáo nhấn mạnh “Kết quả tính toán sơ bộ nêu trên cho thấy việc xây dựng tuyến kênh giao thông thủy tại Campuchia sẽ làm gia tăng mạnh mẽ vấn đề suy giảm nguồn nước tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long như đã được ghi nhận trong những năm qua”. Tuy nhiên, kết quả này của Tổng cục Khí tượng Thủy văn chỉ giới hạn tính toán sự thiếu hụt nước đến ĐBSCL căn cứ vào sự vận hành của kinh Funan Techo chỉ cho mục tiêu vận tải thủy.

Trong cuộc họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao ngày 11/4/2024, đại diện Việt Nam bày tỏ ý rất quan tâm đến dự án kênh đào Phù Nam Techo, đề nghị phía Campuchia phối hợp chặt chẽ với Việt Nam và Ủy hội sông Mekong, cộng đồng quốc tế về việc chia sẻ thông tin về công trình này. Điều này cũng chứng tỏ thông tin về Dự án cũng không có được đầy đủ về phía Chính phủ Việt Nam.

Hiện có nhiều ý kiến trong và ngoài nước khác nhau ở các kênh báo chí chính thống lẫn mạng xã hội bàn luận, bảy tỏ các quan ngại về dự án này liên quan đến đến nguồn nước về ĐBSCL trong tương lai. VNRC tổ chức họp tham vấn về Dự án Kênh đào Phù Nam-Techo của Campuchia và kết quả thực hiện Hướng dẫn đánh giá tác động môi trường xuyên biên giới của Ủy hội sông Mê Công quốc tế.

 

THÔNG TIN CỦA DỰ ÁN

Căn cứ vào thông tin chính thức của Ủy ban Sông Mekong Quốc gia Cambodia (2023), Dự án kinh đào “Funan-Techo Canal” là một công trình Thủy lộ Nội đia, điểm đầu nối với dòng Bassac gần cảng ở thủ đô Phnom Penh Campuchia, kéo dài đi qua các tỉnh Kandal, tỉnh Takeo, tỉnh Kampot và kết nối với các cảng ở tỉnh Kep của Campuchia đổ ra vịnh Thái Lan (Hình 1 và Hình 2).


Hình 1: Bản đồ vị trí Thủy lộ Nội địa Funan Techo (Nguồn: CNMC, có bổ sung ghi chú của Lê Anh Tuấn)

Một số thông tin cơ bản từ CMMC:

  • Kinh dài 180 km, rộng 100 mét phía đầu vào kinh và khoảng 80 m ở đầu ra, chiều sâu và độ rộng mặt cắt kinh dẫn đoạn giữa là 4,7 m x 50 m, đủ cho 2 tàu chạy theo 2 chiều trên kinh. Mái dốc bờ kinh là 1:3 ~ 1:5 và bán kính cong tối thiểu của kinh là 300 m.

  • Kinh được thiết kế yếu cầu cho tàu có trọng tải 1.000 DWT (DeadWeight Tonnage) với kích thước tàu tiêu chuẩn 60 m x 12 m x 3,6 m (Chiều dài x Chiều rộng x Chiều sâu mớn nước)

  • Trên kinh có 3 công trình âu tàu (Lock works) tải 3 vị trí: âu tàu nơi kết nối với sông Bassac (sông Hậu), âu tàu tại tỉnh Takeo và âu tàu nới cửa ra tỉnh Kep. Âu tàu với kích thước cơ bản Dài x Rộng x Sâu là 135 m x 18 m x 5,8 m. Lượng nước xả tối đa qua âu tàu là 3,6 m3/giây (trung bình ngày).

  • Trên kinh có 11 cầu vượt, chiều dài cầu chính là 161 m và chiều dài lên cầu là 520 m.

  • Chi phí xây dựng ước khoảng 1,7 tỷ USD, có thể từ nguồn vay RBI và theo cơ chế BOT.

  • Thời gian xây dựng là 4 năm, dự kiến khởi công vào cuối năm 2024.

  • Công trình được Tập đoàn Cầu đường Trung Quốc (CRBC), một công ty con của công ty xây dựng hạ tầng Chinese Communications Construction Company (CCCC) của Trung Quốc khảo sát thiết kế.


Hình 2: Bản đồ Cambodia và vị trí 4 tỉnh liên quan dự án Funan – Techo (Edited by Le Anh Tuan, 2024)

 

3. CÁC LƯU Ý TÁC ĐỘNG ĐẾN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

3.1 Nguy cơ thay đổi đặc điểm thủy văn – nguồn nước

Do các số liệu cung cấp rất hạn chế và thông tin còn mơ hồ, hồ sơ không có báo cáo dự kiến quy trình vận hành hệ thống kinh, trong khi có những bản vẽ kỹ thuật chi tiết không cần thiết so với các thông tin căn bản về nguồn nước, không có báo cáo đánh giá tác động môi trường, báo cáo gởi cho MRC chỉ đề cập đến chức năng kinh như một thủy lộ hay kinh giao thông thủy, không có những khẳng định chức năng khác của con kinh có phục vụ tưới – tiêu cho sản xuất nông nghiệp, lấy nước cho sinh hoạt và cung ứng cho hoạt động sản xuất công nghiệp hay không và ở mức độ khai thác như thế nào, do vậy các lưu ý tác động ở đây mang định tính nhiều hơn định lượng. Tính toán sơ bộ để ước lượng nhanh dưới đây, chủ yếu là tìm hiểu khả năng mất nước mùa khô trên sông Hậu khi đến ĐBSCL sau khi có kinh Phù Nam này.

CNMC cung cấp con số lượng nước xả tối đa qua âu tàu theo trung bình ngày là 3,6 m3/giây nhưng không nói rõ là thời gian bơm tối đa trong ngày vận hành đông tàu nhất là bao nhiêu giờ/ngày. Giả thiết là các âu tàu xả 15 giờ/ngày thì lượng nước phải bơm (theo phương án tính toán bất lợi, khi mực nước sông Bassac thấp hơn mực nước trong kinh, nhất là trong điều kiện mùa khô) sẽ là 194.400 m3/15 giờ, nếu xét thêm tổn thất 30% nước do thấm rút và

bốc hơi thì lượng nước chuyển ra Vịnh Thái Lan có thể lên đến 252.720 m3 cho 1 ngày vận hành trong 15 giờ. Lượng nước này xấp xỉ 7,6% lưu lượng nước mùa khô trên sông Hậu (lưu lượng trung bình qua sông Hậu mùa khô 2022 vào khoảng 924 m3/s chiếm khoảng 20% so với toàn bộ lưu lượng mùa khô qua Phnom Penh là 4,620 m3/s – căn cứ vào số liệu quan trắc năm 2022 là năm nước trung bình) . Trường hợp tàu ra vào liên tục 2 chiều thì có thể lượng nước bơm cao hơn mức ước tính nhanh này. Kết quả này cũng phù hợp với tính toán sơ bộ của Tổng cục Khí tượng Thủy văn (thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường) cho rằng tuyến kênh mới đi vào hoạt động như đã dự kiến ở trên sẽ làm dòng chảy về vùng Đồng bằng sông Cửu Long suy giảm mạnh (6-10% vào mùa cạn).

Tuy nhiên, kinh đào này không chỉ phục vụ cho mục tiêu giao thông thủy mà còn cho mục tiêu phát triển nông nghiệp, theo Hun Sen, 20245: “6. The Techo Funan Canal purely serves socio-economic benefit as it provides more waterways to the southwestern Cambodia additional to the existing transport routes along the Mekong River. This vital infrastructure facilitates agricultural activities by providing water for crop cultivation, is good for water management during the rainy season, and increases freshwater fish production, among other benefits.), tạm dịch “6. Kênh Techo Funan hoàn toàn phục vụ lợi ích kinh tế xã hội vì nó cung cấp thêm đường thủy đến vùng Tây Nam Campuchia bổ sung cho các tuyến giao thông hiện có dọc sông Mê Kông. Cơ sở hạ tầng quan trọng này tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động nông nghiệp bằng cách cung cấp nước cho canh tác cây trồng, quản lý nước tốt trong mùa mưa và tăng sản lượng cá nước ngọt cùng nhiều lợi ích khác.” . Với thêm mục tiêu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp thì lượng nước lấy từ kinh, nếu xét cho mùa khô, chứ không phải từ mùa mưa như dẫn chứng phát biểu trên (vì mùa mưa cũng là mùa ngập lũ, các cánh đồng hai bên kinh không cần phải tưới) thực chất lấy từ sông Hậu, sẽ rất nhiều hơn lượng nước cho giao thông thủy. Đây cũng là một ẩn số chưa rõ mức độ lấy nước theo điều kiện canh tác. Mà có lấy nước thì phải có kinh nhánh xương cá thứ cấp (kinh cấp 2, cấp 3, …).

Theo số liệu của ADB (2021)6, trên toàn Cambodia có khoảng 4,5 triệu ha đất canh tác, trong đó đất trồng lúa chiếm 70% (Hình 3), đất trồng cây công nghiệp (như mía, thuốc lá) và cây hoa màu phụ trợ (như rau, đậu, khoai, bắp…) chiếm chừng 20%, đất trồng cây cao su là 7% và các loại cây lâu năm (như dừa, cà phê, điều, trái cây các loại) là 4% tổng diện tích đất nông nghiệp. Trước kia, diện tích lúa canh tác mùa mưa chiếm hơn 88% diện tích lúa, lúa mùa khô chiếm 12%. Lúa mùa mưa phụ thuộc nhiều vào lượng mưa từ tháng 5 đến tháng 10, trong khi lúa mùa khô được trồng dưới điều kiện tưới đầy đủ hoặc bổ sung hoặc trong điều kiện nước lũ rút (Men Sarom et al., 2001)7. Chỉ tính đất canh tác lúa năm 1998-2000 của 3 tỉnh Kandal (91.523 ha), Takeo (235.102 ha) và Kampot (138.390 ha), bỏ qua tỉnh nhỏ nhất là Kep vì đây là vùng ven biển thì con số tổng đất trồng lúa đã hơn 265.000 ha (số liệu năm 2000 này đã cũ, hiện nay có thể diện tích mở rộng hơn nhưng tạm dùng số này để ước tính).


Hình 3: Bản đồ vùng canh tác lúa chủ lực ở Cambodia (Nguồn: Men Sarom et al., 2001)

Tính gần đúng 1 ha lúa vụ mùa khô (vụ Đồng Xuân) khoảng 4.700 – 5.200 m3 nước/ha.vụ (Doàn Doãn Tuấn et al., 2011)8 , có thể lấy trung bình 5.000 m3/ha.vụ (tạm thời ước lượng) thì với giả thiết 50% diện tích canh tác lúa của 3 tỉnh trên sẽ lấy nước trên kinh và một phần sông Hậu cho mùa khô chừng 662.500.000 m3 nước cho một vụ mùa khô chừng 100 – 110 ngày canh tác lúa, hay với lưu lượng bơm hay chừng 1.673 m3/s. Còn trường hợp 70% diện tích trồng lúa của 3 tỉnh này đều sử dụng cho vụ mùa khô thì lưu lượng lấy đi sẽ là 2.342 m3/s, vượt qua lưu lượng mùa khô sông Bassac. Đây là một số ước tính vượt qua lưu lượng trung bình trên sông Hậu (Bassac) là 942 m3/s. Do vây dự án này phải chuyển nước sông Tiền (Trans-Bassac) qua sông Hậu hơn 1.400 m3/s để cân bằng thêm cho nguồn nước. Đó có lẽ là lý do chính khi dự án Funan – Techo này phải là một đoạn kinh chuyển nước (water diversion) từ sông Tiền (Trans-Bassac) sang sông Hậu (Bassac), hình 1 xác nhận khẳng định này.

Như vậy, theo bàn đồ và theo ước tính trên, con kinh Funan Techo này đã lấy nước trực tiếp từ cả dòng chính sông Hậu và sông Tiền, chứ không phải một phụ lưu (tributary) nào của hệ thống sông Mekong. Điều này khác với khẳng định của Hun Sen (2024) “This canal has no impacts on the flow of the Mekong River as it does not connect directly to the Mekong but rather to the Bassac River. Measures such as sluice gates prevent freshwater from entering the sea, in adherence to the 1995 Mekong Agreement. We follow the 1995 Mekong Agreement. Please ask the Mekong River Commission because we have already informed the Mekong River Commission this agreement.” (Tạm dịch: Kinh này không ảnh hưởng đến dòng chảy của sông Mê Kông vì nó không nối trực tiếp với sông Mê Kông mà nối với sông Hậu. Các biện pháp như cửa cống ngăn nước ngọt chảy ra biển, tuân thủ Hiệp định Mê Kông 1995. Chúng tôi tuân theo Hiệp định Mê Kông năm 1995. Vui lòng hỏi Ủy ban sông Mê Kông vì chúng tôi đã thông báo cho Ủy ban sông Mê Kông về thỏa thuận này.)

Tính toán này bỏ qua lượng nước lấy để cung cấp cho sinh hoạt và hoạt động cộng nghiệp (sửa chữa, hậu cần tàu bè). Nếu tính đầy đủ thì mùa khô, sau khi có kinh Phù Nam Techo thì nước trên sông Tiền và sông Hậu hai phân lưu của sông Mekong về đến ĐBSCL sẽ giảm hơn 50%. Những năm khô hạn như 2026 hay 2024, sự thiếu hụt sẽ tăng hơn trầm trọng. Đây là điều đáng suy nghĩ cho tương lai dòng chảy trên sông Hậu mùa khô, chứ không thể xem là không đáng kể. Chắc chắn là với mực suy giảm theo ước tính như thế này thì khả năng xâm nhập mặn sâu hơn , có thể ảnh hưởng trên một nửa diện tích canh tác vùng châu thổ trong tương lai vào mùa khô và trong các giai đoạn triều cường. Điều này hoàn toàn phù hợp và càng nhấn mạnh thêm ý kiến của Tổng cục Khí tượng Thủy văn cho “Đây là một bất ổn lớn về an ninh phi truyền thống cần được tính toán đến trong tất cả các kế hoạch phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long”.

Sự thay đổi dòng chảy trên sông Mekong (qua sông Hậu và sông Tiền) sẽ làm thay đổi đặc điểm thủy văn tự nhiên, một phần dòng chảy sẽ bị kiểm soát do con người, cả với những chuỗi đập thủy điện và khai thác nước từ kinh Funnan dẫn đến những số liệu đo đạc thủy văn để tính toàn thiết kế các công trình liên quan đến nước vùng ĐBSCL không chắc chắn tin cậy khi dựa vào chuỗi số liệu quá khứ.

3.2 Tác động về hệ sinh thái, môi trường và tính đa dạng sinh học

Vào mùa mưa, kinh đào này với đường đắp bờ hai bên thành đường giao thông và đô thị hóa sẽ trở thành con đê cắt ngang qua các cánh đồng ngập lũ (lũ trên sông Mekong là lũ tràn đồng) như vậy đặc điểm phân bố nước sẽ thay đổi nghiêm trọng, phía bắc của kinh diện tích ngập sẽ gia tăng lên phần trên trong khi phần đất phía nam và vùng trũng Tứ Giác Long Xuyên sẽ giảm lũ (Hình 4). Lũ thấp sẽ không những ảnh hưởng chức năng của các đập điều tiết như đập Thala mà còn làm giảm nguồn cá, nguồn phù sa, nguồn dinh dưỡng từ sinh vật phù du trong nước và thay đổi mạnh tính đa dạng sinh học do chuỗi thức ăn thay đổi một cách đáng kể.


Hình 4: Phát họa thay đổi vùng ngập mùa lũ ở cả 2 phía bắc và nam kinh Funan Techo

Dự báo các cánh đồng và vùng đất ngập nước nổi tiếng như Anlung Pring là nơi bảo tồn Sếu của Cambodia và vùng đất ngập nước Trà Sư, Tỉnh Đội, khu bảo tồn đồng cỏ bàng Phú Mỹ sẽ giảm lượng nước đáng kể và de dọa sự tồn tại đặc điểm đa dạng sinh học ở các nơi này, kể cả những tín hiệu sinh thái (ecological signals) có thể bị ảnh hưởng sẽ làm lệch lạc cho các loài di cư hoặc sinh sản theo mùa.

Ngoài ra, việc lấy nước và chuyển nước vào kinh Funan Techo từ sông Hậu và sông Tiền sẽ giảm lượng nước về Biển Hồ. Bassac và Mekong hiện nay là hai phân lưu chia nước với Biển Hồ, Biển Hồ sẽ phải nhường nước thêm cho phân lưu thứ ba khi Funan Techo hoạt động..

Trong bài này, tạm thời không xét đến lượng nước tối thiểu cần để duy trì dòng chảy môi trường và đấy nước mặn khi mở âu tàu cho các tàu hàng/ tàu khách từ Vịnh Thái Lan vào nội địa và tàu từ nội địa ra Vịnh Thái Lan.

3.3 Các ảnh hưởng kinh tế - xã hội

Con kinh Phù Nam Techo sẽ chảy qua một vùng đất có khoảng 1,6 triệu dân sinh sống tạo ra một cơ sở phát triển kinh tế cho Cambodia, sắp tới dân số sẽ gia tăng nhờ đô thị hóa hai bên kinh và nhiều cơ sở thương mại, dịch vụ hậu cần sẽ tăng theo. Nhu cầu dùng nước chắc chắn sẽ tăng cao hơn so với hiện nay.

Nước ở vùng trũng Tứ Giác Long Xuyên giảm do suy giảm mùa lũ và phù sa không chỉ ảnh hưởng canh tác nông nghệp và thủy sản mà còn làm trầm trọng nguy cơ thiếu nước và xâm nhập mặn mùa khô vùng Tây Sông Hậu và Bán đảo Cà Mau.

Sự thiếu hụt nguồn nước vào mùa lũ và các thay đổi bất lợi cho môi trường đất ngập nước, tính đa dạng sinh học cũng sẽ gây nhiều tác hại kinh tế về mặt du lịch sinh thái, sản phẩm du

lịch sẽ nghèo hơn và các điều kiện cân bằng yếu tố vi khí hậu khu vực, khả năng hấu thụ carbon của các lợp phủ thực vật liên quan.

Về kinh tế, sẽ có một phần lớn các tàu thuyền ở Cambodia sẽ sử dụng kinh này để ra Biển phía Vịnh Thái Lan, như vậy số liệu “Cục Đường thủy nội địa Việt Nam cho biết kể từ khi Hiệp định vận tải đường thủy giữa hai nước có hiệu lực tháng 1-2011, hai nước đã làm thủ tục cho gần 78.000 lượt tàu bè, hơn 406.000 lượt thuyền viên, khoảng 20 triệu tấn hàng hóa thông qua” (Bình An, 2024)9 sẽ thay đổi. Chưa ước tính được chi phí giảm đi cho sự thay đổi này.

Phía Cambodia cho rằng nhờ con kinh Funan Techo này, tàu từ Phnom Penh ra biển sẽ rút ngắn (xấp xỉ 180 km) và có thể hoàn toàn tránh phụ thuộc, không cần phải đi qua ĐBSCL theo tuyến sông Tiền. Tuy nhiên điều này cần phải xét lại, vì đi qua cảng Kep chỉ mới chạm vào biển chứ không phải là đích đến, vì hơn 2/3 hàng hóa xuất nhập khẩu của Cambodia là đến các nước Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc , Canada và Mỹ ... rất hiếm bán được qua Châu Âu thì con đường đi qua ĐBSCL sẽ ngắn hơn là đi ra cảng Kep rồi phải vòng xuống, qua Mũi Cá Mau để ra Biển Đông và đi ngược lên các nước Đông Á (Hình 5). Con đường hàng hóa nếu phải đến Mỹ (như đến Long Beach hay Los Angeles) thì cũng phải đi qua Biển Đông và Trung Quốc (trang web của Fluet Cargo)10. Cũng cần hiểu là giao dịch thương mại lớn nhất của Cambodia nằm 2022 là Mỹ (36,3% hay 13,03 tỷ USD) và Việt Nam (10,2%, tương đương 3,55 tỷ USD) so với tổng giá trị thương mai xuất nhập khẩu quốc gia Camboda (theo trang web của OEC)11.


Hình 5: Bản đồ phát họa đường xuất nhập cảng từ cảng Phnom Penh đến các nước Đông Á

3.4 Các tiên đoán ảnh hưởng khác chưa định lượng được

Nước là nền tảng phát triển vùng ĐBSCL, đặc điểm thủy văn dòng chảy thay đổi có thể tác động tiêu cực đến an ninh nguồn nước vùng. Các tiên đoán ảnh hưởng bất lợi khác có thể là:

  • Các công trình kiểm soát nước (water control works) đã xây dựng như cống đập Trà Sư, hệ thống kiểm soát lũ Bắc Vàm Nao, vùng đê bao 3 vụ, khu dân cư vượt lũ… sẽ thay đổi chức năng và giảm hiệu quả vận hành.

  • Quy hoạch vùng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Thủ tướng Chính phủ, 2022)12 có thể phải điều chỉnh vì trước đó đã không có xem xét yếu tố kinh đào Funan – Techo. Các quy hoạch khác cấp tỉnh mới được phê duyệt cũng có thể phải điều chỉnh lại do có những nhân tố mới liên quan nguồn nước.

  • Chương trình 1 triệu ha lúa chất lượng cao của Chính phủ có thể bị ảnh hưởng do đặc điểm nguồn nước thiếu hụt và suy giảm sức khỏe đất, đặc biệt vào vụ Đông Xuân.

  • Nguy cơ thiếu nước ngọt và xâm nhập mặn ở vùng ven biển Tây Nam sông Hậu có thể nặng nề hơn và tốn kém hơn để hạn chế. Các biện pháp chống sạt lở, lún sụt hiện nay có thể thêm khó khăn.

  • Thiếu hụt nước ngọt đến ĐBSCL sẽ ảnh hưởng hàng chục dự án ứng phó với biến đổi khí hậu và dự án xóa đói giảm nghèo đã và đang triển khai. Một bộ phận người dân đã thoát nghèo có nguy cơ tái nghèo và có thể gia tăng lượng di cư khỏi đồng bằng.

 

TẠM KẾT

Nghiên cứu này cần phải tiếp tục theo sự phối hợp và chia sẻ dữ liệu để có cơ sở đánh giá những tác động và xem xét những đánh đổi (trade-off) để tìm cách giải pháp giảm nhẹ và thích ứng. Trước mắt, VNMC có thể đề nghị tạm dừng dự án này thêm một thời gian để có những nghiên cứu và đối thoại sâu hơn với sự hợp tác của các chuyên gia hay tổ chức trong và ngoài nước có kinh nghiệm và khách quan.

Chúng ta mong muốn cả hai nước Việt Nam và Cambodia đều có những điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và bảo về các nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó có giá trị vô giá của sông Mekong. Các nước Mekong phát triển hòa bình, không bị lệ thuộc kinh tế và không bị lợi dụng cho các vấn đề mang tính địa chính trị là mong muốn chung.

Các bên cần xem xét áp dụng Công ước về Luật sử dụng các nguồn nước liên quốc gia cho các mục đích phi giao thông thủy, đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 21/5/1997 (UN Convention on the Law of the Non-Navigational Uses of International Watercourses, hay còn được gọi là Công ước về Nguồn nước của Liên Hợp Quốc – Uinted Nations Watercourses Convention, được viết tắt là UNWC)13. Công ước này nhấn mạnh cho việc sử dụng các nguồn nước liên quốc gia cho các mục đích phi giao thông thủy và các biện pháp bảo vệ, bảo tồn và quản lý có liên quan đến việc sử dụng các nguồn nước liên quốc gia.

Các quốc gia trong lưu vực Mekong cần tuân thủ theo nguyên tắc và tinh thần sử dụng tài nguyên nước một cách hợp lý, hòa bình, không gây nguy hại cho các quốc gia khác và chia sẻ lợi ích, chia sẻ rủi ro một cách công bằng nguồn nước quốc tế, giảm thiểu tối đa có tác hại đáng kể - đối với môi trường, hệ sinh thái và sinh kế dựa vào nguồn nước của hàng triệu người dân sinh sống dọc theo dòng sông Mekong, con sông lớn nhất Đông Nam Á.

Lê Anh Tuấn
23/4/2024

-----------------------------------------------

1 Tuyên bố trách nhiệm và chối từ:
Bài này nêu quan điểm cá nhân của tác giả, người đã sống và làm việc ở ĐBSCL hơn 50 năm, đang là một giảng viên Bộ môn Tài nguyên Nước, Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên trường Đại học Cần Thơ, chuyên môn sâu trong ngành thủy học môi trường (environmental hydrologist). Tác giả cũng đang là Cố vấn Khoa học cho Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu, trường Đại học Cần Thơ.

Nhận định trong bài này không liên quan và không phản ánh các quan điểm cũa trường Đại học Cần Thơ, nơi tác giả đang công tác. Các số liệu, dữ liệu trong bài viết này chỉ có giá trị tham khảo đến thời điểm chia sẻ và tác giả có thể điều chỉnh, sửa chữa khi có những phát hiện mới phù hợp hơn.

Tác giả không chịu trách nhiệm với các các trích dẫn không đầy đủ, các diễn giải và suy luận xa hơn, nếu không có sự giải thích hoặc đồng ý của tác giả.

2 Cục Quản lý Tài nguyên Nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường (2023). V/v mời tham gia đánh giá tác động của Dự án xây dựng tuyến giao thông thủy của Campuchia đến vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Công văn số 2266/TNN- LVSMC do Phó Cục Trưởng Nguyễn Hồng Hiếu ký ngày 22/9/2023.

3 Cambodia National Mekong Commettee (2023). The Inland Waterway Project “Funan-Techo Canal”. Cocument No. CNMC 731/23, date 8 August, 223, signed by So Sophort, Serectary General of CNMC, 14 pages.

4 Tổng cục Khí tượng Thủy văn (2023). Báo cáo Đánh giá sơ bộ tác động của tuyến đường thủy nội địa Campuchia đến nguồn nước vùng đồng bằng sông Cửu Long. Tài liệu không xuất bản.

5 Hun Sen (2024), in his Twitter https://twitter.com/hunsencambodia/status/1777569595974647998?s=46&t=Lrn2x1YZQB_o8vaQJXfvjg

6 ADB (2021). Cambodia Agriculture, Natural Resources, and Rural Development Sector Assessment, Strategy, and Road Map. https://www.adb.org/sites/default/files/publication/718806/cambodia-agriculture-rural-development-road-map.pdf

7 Men Sarom, Ouk Makara, Hun Yadana, Sakhan Sophany and Pith Khon Hel (2001). Rice-Breeding Methods for Cambodia. In Increased Lowland Rice Production in the Mekong Region, edited by Shu Fukai and Jaya Basnayake ACIAR Proceedings 101, pp. 236-244.

8 Đoàn Doãn Tuấn, Trần Văn Đạt, Trần Việt Dũng (2011). Nhu cầu nước, chế độ tưới thích hợp cho lúa được canh tác theo phương pháp truyền thống và cải tiến ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Tạp chí KH&CN Thủy lợi, Viên Khoa học thủy lợi Việt Nam, số 02, 03/2011, trang 47-53. https://www.vawr.org.vn/nhu-cau-nuoc-che-do-tuoi-thich-hop-cho-lua-duoc-canh-tac-theo-phuong-phap-truyen-thong-va-cai-tien-o-vung-dong-bang-bac-bo

9 Bình An (2024). Vì sao kênh đào Phù Nam Techo gây chú ý? Báo Tuổi Trẻ online. https://tuoitre.vn/vi-sao-kenh-dao-phu-nam-techo-gay-chu-y-20240412231008694.htm

10 https://www.fluentcargo.com/search?o=Cambodia&d=United%2BStates

11 https://oec.world/en/profile/country/khm?latestTrendsFlowSelectorNonSubnat=flow1

12 Thủ tướng Chính phủ (2022. Phê duyệt Quy hoạch vùng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. ). Quyết định số 287/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ký ngày 28/2/2022. https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=205414

13 https://legal.un.org/ilc/texts/instruments/english/conventions/8_3_1997.pdf