viet ecology
Article Page
VẪN CÒN TIA HY VỌNG CHO DÒNG MEKONG

Tác giả: RICHARD CRONIN
Biên dịch: Giải pháp vì Môi trường

Cho tới khi bắt đầu xây dựng các đập ở độ cao cao hơn lưu vực của sông Mekong, các khúc sông rộng ở dưới hạ nguồn đã làm nên ngành thủy sản nước ngọt nội địa lớn nhất thế giới và là chỗ dựa chính tạo ra công ăn việc làm, đảm bảo an ninh lương thực và dinh dưỡng cho hơn 60 triệu người. Đáng buồn thay, trong cả hai mùa mưa từ tháng 5 tới tháng 10 vừa qua, nhánh sông chính đã chứng kiến một mức lưu lượng thấp chưa từng có. Trong cả hai năm đó, khái niệm “xung lũ” 1 thường rất đáng tin cậy lại không đủ để đảo ngược dòng chảy của con sông Tonle Sap ở Campuchia để đổ vào Biển Hồ (Great Lake) - “trái tim sống” của ngành thủy sản với sản lượng đánh bắt hàng năm tỷ lệ trực tiếp với lượng dòng chảy trong mùa lũ.

Trung Quốc chắc chắn đã trở thành tâm điểm của mối lo ngại liên quan tới tình trạng hạn hán trầm trọng ở vùng hạ lưu Mekong bởi việc xây dựng hàng loạt 11 con đập từ cỡ lớn cho tới cỡ siêu lớn phía trên thượng nguồn của sông Mekong, hay còn gọi là dòng Lan Thương Giang (“dòng sông cuộn sóng”), và hầu như thiếu sự minh bạch về việc các con đập này đang được hoạt động như thế nào.

Hồ chứa của con đập lớn nhất trên dòng Lan Thương, đập Nọa Trát Độ (Nuozhadu) với chiều cao 261,5 mét, có thể chứa được 22 nghìn khối nước – lượng nước bằng 10 con đập khác cộng lại. Đập Nọa Trát Độ giống như một bể chứa nước khổng lồ với một "cái vòi nước" có thể kiểm soát dòng chảy đến đập Cảnh Hồng (Jinghong), đập thấp nhất trên dòng sông này, được coi là một “cái vòi nước” khác điều khiển dòng chảy đến nửa dưới hạ lưu của sông.

Lưu vực hạ lưu hiện nay xuất hiện nhiều con đập lớn, từ các con đập có dung tích hồ chứa đáng kể cho tới các đập "điều chỉnh cả dòng sông" với các hồ chứa tương đối nhỏ nằm ở Lào, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam. Những con đập này cũng ảnh hưởng đáng kể đến mực nước của dòng chảy chính, nhưng vào mùa khô, các con đập ở Trung Quốc là nguồn cung cấp dòng chảy lớn nhất và duy nhất. Chắc chắn rằng, khi các đoạn sông trở nên thấp bất thường, các quốc gia ở vùng hạ lưu có xu hướng tập trung vào khu vực thượng nguồn ở Trung Quốc hơn là sự ảnh hưởng của các con đập của chính họ và sự biến đổi khí hậu không thể chối bỏ ở đây.

Vào tháng 7 năm 2019, phần lớn là do các đập của Trung Quốc xả ra lượng nước ít, mực nước ở nhiều khúc sông trên dòng chính và Biển Hồ (hồ Tonle Sap) đã giảm xuống mức thấp nhất ít nhất trong vòng một trăm năm qua. Chế độ ăn của người Campuchia phụ thuộc vào cá – nguồn cung cấp 75% protein từ động vật, đã chứng kiến sự sụt giảm 70% trong sản lượng cá đánh bắt được trong suốt 9 tháng đầu năm 2020. Sự tiếp diễn của xu hướng này sẽ là một thảm họa về môi trường và kinh tế xã hội mang tầm vóc lịch sử.

Giải pháp để giảm thiểu đáng kể tác động gây thiệt hại nặng nề nhất của các con đập lớn trên dòng chảy chính cũng như các nhánh sông thì có, mang tính thực tiễn nhưng lại khó thực hiện về mặt chính trị. Vấn đề này đã được nêu ra nhưng chỉ đối với những dòng chảy chính trong Hiệp định Mekong 1995 được Thái Lan, Việt Nam, Campuchia và Lào cùng phê chuẩn; trong đó các quốc gia cam kết hướng tới “sự phát triển, sử dụng, bảo tồn, và quản lý bền vững nguồn nước lưu vực sông Mekong” vì lợi ích chung và công bằng.
Hiệp định Mekong 1995 đã thiết lập ra ba quy tắc cơ bản để duy trì các dòng chảy tới hạn trong trường hợp có các dự án phát triển lâu dài liên quan tới nguồn nước: "không được thấp hơn dòng chảy tự nhiên hàng tháng tối thiểu có thể chấp nhận được trong suốt mỗi tháng mùa khô; để tạo điều kiện cho dòng chảy ngược tự nhiên có thể chấp nhận được của sông Tonle Sap diễn ra trong mùa mưa; và để ngăn đỉnh dòng chảy trung bình hàng ngày cao hơn dòng chảy tự nhiên trung bình trong suốt mùa lũ.”

Trung Quốc và Myanmar không phải là thành viên của Hiệp định 1995 này nhưng văn kiện rõ ràng được đưa ra cho cả hai nước này tham gia vào một ngày trong tương lai.
Hai con đập nằm trên dòng chảy chính được xây ở Lào đã được thiết kế tuân thủ theo các quy tắc này, cũng như có khả năng là bốn con đập nữa đang được xem xét. Nếu Trung Quốc cam kết các điều lệ này thì điều đó đem lại thành quả lớn trong việc phục hồi chức năng quan trọng của các dòng chảy tự nhiên theo mùa của con sông.

Bất chấp nhiều trở ngại rõ ràng về mặt chính trị, việc đưa Trung Quốc tham gia vào các quy tắc của Hiệp định Mekong ban đầu này về sự cần thiết trong việc điều hướng các con đập và và dòng nước không phải là vấn đề không thể giải quyết được. Sự tham gia của Trung Quốc có thể đạt được bằng cách thông qua hợp tác không chính thức, hoặc một cách hiệu quả hơn là thỏa thuận khu vực thông qua MRC hoặc thông qua Cơ chế Hợp tác Lan Thương – Mekong của Trung Quốc.

Sự ra mắt của Hệ thống giám sát đập Mekong (MDM) trên nền tảng trang web vào ngày 15 tháng 12 của Trung tâm Stimson của Thủ đô Washington, DC (Mỹ) có thể hỗ trợ về mặt vật chất cho một trong hai phương án trên. Nền tảng MDM trực tuyến sử dụng công nghệ vẽ bản đồ và phân tích bằng các hình ảnh viễn thám, hình ảnh vệ tinh và hệ thống thông tin địa lý (GIS) nhằm cung cấp dữ liệu đo khá tức thời (gần thời gian thực) về một loạt các chỉ số, bao gồm cả những điều kiện của hồ chứa để hiểu rõ hơn về sự tương tác của nhiều yếu tố đang góp phần làm suy giảm một trong những vùng sông Mekong hùng mạnh một thời.

Thành tích mang tính bước ngoặt của Stimson sẽ được hoan nghênh, đặc biệt là với những người từ lâu đã suy nghĩ về các câu hỏi chưa được trả lời trước đó về nguyên nhân thất bại của hai đợt gió mùa gần đây để cấp lại nước cho dòng Tonle Sap. Mục tiêu của MDM là giúp cho việc thúc đẩy sự hợp tác giữa tất cả các nước trong vùng sông Mekong để tối ưu hóa sự vận hành của các con đập hiện có nhằm ước tính thời gian và lưu lượng tự nhiên của các dòng chảy theo mùa và không để Trung Quốc giám sát ngoài ý muốn.

Trong trường hợp của Trung Quốc, việc điều phối hoạt động của các cửa xả lũ và nhà máy sản xuất điện để duy trì dòng chảy tự nhiên theo mùa được song hành với các quy tắc đề cập ở trên sẽ đòi hỏi nhiều khả năng dự đoán và tính thường xuyên hơn so với trước đây. Điều này không cần phải thỏa hiệp đến việc sản xuất điện bởi vì dung tích cực lớn của các hồ chứa hai đập Nọa Trát Độ và TIểu Loan (Xiaowan).

Vấn đề quan ngại hơn nhiều là vấn đề mang tính chính trị. Môt cách có thể làm giảm mối lo ngại về các đặc quyền của các quốc gia là thông qua một quá trình xúc tiến từng bước một. Trước những lên án của các khu vực hạ lưu về việc vận hành hệ thống đập, Trung Quốc đã bắt đầu cung cấp các số liệu thường xuyên về dòng chảy của sông. Điều này vẫn chưa đủ để hiểu rõ điều gì đang xảy ra toàn cảnh và tức thời đối với con sông.

Hơn hết, nếu không có những thay đổi trong sự vận hành của tất cả các đập lớn trong lưu vực sông, bao gồm cả các nhánh sông chính, năng suất của dòng sông sẽ tiếp tục suy giảm và kéo theo đó sẽ không chỉ là an ninh lương phẩm và sinh kế mà cả sự bất ổn xã hội không mong muốn. Vấn đề sau cùng này cũng chính là mối đe dọa tiềm tàng mà Trung Quốc cần phải đối phó để đạt được mục tiêu phát triển hợp tác trên toàn lưu vực sông.

--------------------------------

1 là hiện tượng ngập lụt và hạn hán xảy ra định kỳ kiểm soát sự trao đổi nước, chất dinh dưỡng, và sinh vật giữa dòng chảy chính (của sông hoặc hồ) với vùng đồng bằng ngập nước được kết nối