viet ecology
Article Page
Một số đề xuất giải pháp cho Mekong Delta
TS Nguyễn Thị Hải Yến

Định hướng phát triển kinh tế, qui hoạch tổng thể và qui hoạch chi tiết cho các loại hình phát triển

  • Đã đến lúc những nhà quản trị và những nhà khoa học của Việt Nam, cần phải cùng nhau quay lại phân tích và đánh giá những chính sách phát triển kinh tế trước đây ở vùng Châu thổ Mekong. Cụ thể: việc cho phát triển ồ ạt nuôi tôm vùng bãi bồi (vùng đệm non trẻ), vùng phát triển trồng lúa lùi vào phía trong (vùng đệm ổn định hơn) của đới bờ. Hai hoạt động nuôi tôm và trồng lúa này đã phá nát sinh cảnh tự nhiên của vùng bồi đắp bằng cách chuyển đổi các cánh rừng tự nhiên này thành ruộng lúa hoặc đầm nuôi tôm, và việc xẻ đất làm các kênh mương thủy lợi cho trồng lúa và nuôi tôm, chính là những nhân tai gây nên việc nhiễm mặn nặng nề hơn, và nhanh hơn.

  • Theo chia sẻ của GS. Võ Tòng Xuân và Chuyên gia Vũ Quang Việt, VN chỉ cần 1 triệu ha trồng lúa cho cả nước là đủ. Đủ nghĩa là để đảm bảo nhu cầu về lương thực/gạo, mà hãy quên đi cái chính sách trọc phú xuất khẩu rẻ mạt kia. Chúng ta cần phải thẳng thắn và trung thực thừa nhận rằng, chính sách cho phát triển như thế là để “giải nguy nạn đói sau chiến tranh” và phát triển kinh tế “nâng tầm xuất khẩu” trong quá khứ là những chính sách sai lầm mà bây giờ đang phải trả giá đau đớn.

  • Như đề xuất của TS. Đạt, cựu chuyên gia của FAO, cần có 1 master plan cho Mekong Delta. Những năm 2010s Chính phủ Đan Mạch đã tài trợ cả tiền bạc và chuyên gia cùng với bộ TNMT xây dựng và chạy mô hình cho các kịch bản/scenarios mực nước biển dâng cho toàn vùng Mekong Delta. (bộ TNMT cũng đã phối hợp với các bộ để cho master plan cho từng vùng, khắp VN chứ ko riêng gì Mekong Delta). Bản đồ phân vùng nhiễm mặn đã được đưa ra.

  • Tuy nhiên, với cung cách làm việc của giới trí thức VN, hầu hết các Viện Trường nghiên cứu thường thuê người lấy mẫu hoặc cho sinh viên tự đi lấy mẫu, nên số liệu về độ mặn là khó mà tin cậy. Chính vì thế kịch bản nước biển dâng và xâm lấn mặn ở vùng Mekong Delta là chưa thực sự phản ánh được thực trạng. Vì thế, việc thu thập số liệu về nhiễm mặn ở Mekong Delta phải cấp thiết làm lại và làm một cách thực sự (scientific knowledge). Bên cạnh đó, việc xâz dựng bản đồ/mapping vùng nhiễm mặn hiện tại vẫn cần phải được đánh giá bằng những ý kiến của người dân từng vùng (indigenous knowledge). Từ đó xây dựng  bản đồ phân vùng độ mặn chi tiết cho hiện tại. Tiếp tục kết hợp với mô hình tính toán mực nước biển dâng, từ đó xây dựng bản đồ vùng nhiễm mặn tiềm năng.

  • Sau khi đã có mapping về vùng nhiễm mặn theo độ mặn rồi.Bản đồ phần vùng nhiễm mặn này, sẽ được chồng/overlayed lên những bản đồ sử dụng đất/land use qua các thời kỳ trước đó, kể cả trước 1975. Việc overlaying này sẽ giúp chúng ta thấy rõ việc chuyển đổi sử dụng đất từng vùng qua các thời kỳ thế nào. Từ đây sẽ xác định được những vùng ưu tiên/priotity cũng như nhạy cảm/sensitiveness hoặc dễ bị tổn thương/vunerability. Cũng từ đó sẽ xây dựng bản đồ phân vùng canh tác theo loài và theo thời vụ cũng như các khu trồng rừng bắt buộc.

  • Một kế hoặc phát triển bền vững hài hòa với tự nhiên, thì chỉ những vùng diện tích trồng lúa truyền thống trước 1975 là nên duy trì việc trồng lúa.Còn những vùng mới mở do kênh mương thủy lợi sau 1975 cần phải thằng thắn san lấp trả lại điều kiện tự nhiên ban đầu của nó. Việc giữ nguyên trồng lúa ở những vùng truyền thống sẽ đáp ứng chù trương duy trì diện tích trồng lúa đàm bảo an ninh lương thực/gạo. (Đến đấy thì tác giả cũng hy vọng một số thành viên phản ứng chuyện rằng bao nhiêu đời nay họ trồng lúa, họ ko nuôi tôm. Và cũng không cần phải sợ ăn tôm thay cơm). Việt nam vì chính sách xuất khẩu thủy sản và lúa gạo đã xâm hại nghiêm trọng môi sinh tự nhiên của vùng mekong delta, đẩy mekong delta nhiễm mặn sâu trong nội đồng. Đã đến lúc phải sửa sai. Ở Đức, một số đoạn của sông Elbe những năm 1950 đã bị nắn thành những dòng chẳng thằng thay vì tự nhiên, sau vài chục năm, Đức cũng đã và đang phải phá bỏ và cố gắng trả nó lại như tự nhiên, do làm mất đi hàng loạt các loài sinh vật trong vùng.

  • Việc quyết định trồng lúa hay nuôi tôm phải dựa trên điều kiện khách quan (đó là những dẫn liệu khoa học mà các nhà khoa học đưa ra) và dựa trên nhu cầu của người dân. Thông qua hai công cụ PRA (participatory rural appraisal) và SWOT (strong. weak, opportunity, và threat) ở những vùng priority và sensitiveness/vunerability kia  các nhà khoa học và người  dân sẽ tìm giải pháp cho từng vùng dân cư cụ thể. Các nhà khoa học đóng vai trò hỗ trợ thúc đẩy/facilitator, còn quyết định trồng lúa hay nuôi tôm là của người dân.

  • GS VTX, ĐHCT cùng các viện nghiên cứu  sẽ cung cấp các phương pháp và kỹ thuật nuôi/trồng, còn các trung tâm khuyến ngư sẽ phải sát vai cung người dân để làm sao đó người dân áp dụng hiệu quả các kỹ thuật và mô hình đó.

  • Việc san lấp lại các hệ thống kênh mương trong NTTS và trồng lúa trước đây sẽ đảm bảo tồn tại một vùng đệm vũng chắc chống xâm nhập mặn, nhất là trong tốc độ gia tăng nhanh của biến đổi hí hậu.

  • Một số vùng sau khi san lấp phía ngoài có thể cho áp dụng các hình thức nuôi tôm quảng canh, tận dụng tài nguyên đất nước nhưng không phá hủy môi trường.

  • Để phát triển bền vững, các mô hình sản xuất có qui mô gây rủi ro nhiều cả về môi trường và kinh tế cần phải được hạn chế và kiểm soát. Chính vì thế, phải có hành lang pháp lý cụ thể và nghiêm minh.

Trồng  và phục hồi các khu rừng ở các vùng bùn cát bồi đắp tạo vành đai bảo vệ bờ biển

  • Có những vùng quan trọng về môi trường, như vùng phòng hộ, vùng bồi đắp vành đai ngoài... cần phải nghiêm ngặt không được lấn chiếm cho các hoạt động kinh tế.

  • Có những vùng không thể sản xuất hoặc thuộc vùng phòng hộ phải có chính sách và công tác di dân.

  • Phải thay đổi tư duy trồng rừng cho mục đích bảo vệ bờ biển. Phải trồng rừng đa dạng loài và phải tạo các cánh rừng nhiều tầng, có thế mới phát huy chức năng giữ phù xa của rừng cho mục đích chống lại việc chìm dần của vùng đới bờ trước thực trạng mực nước biển dâng. Đồng thời cũng cho mục đích nâng nền vùng đới bờ và dần dần tạo vùng bờ bền vững tránh giảm sói lở.

  • Nhân rộng các mô hình cải tạo trồng rừng ngập mặn mà tổ chức GIZ của Đức đã và đang thực hiện ở Mekong Delta

Đối với các đập thủy điện của các nước thượng nguồn

  • Những tài liệu có hàm lượng khoa học và dẫn liệu khoa học làm cơ sở cho tính pháp lý trong việc tôn trọng sử dụng nguồn tài nguyên chung, cụ thể là nguồn nước trong lưu vực Mekong,  như SEA (Strategic Environmental Assesment) và MDS (Mekong Delta Studies) cần phải thúc đẩy MRC đưa vào sử dụng như những tài liệu pháp lý tham chiếu. Để đảm bảo quyền lợi của VN đối với nguồn nước ở Mekong.

  • Chính phủ VN ngoài việc thông qua các kênh đối thoại, phải tranh thủ cộng đồng quốc tế và lồng ghép vấn đề nguồn nước Mekong vào các công ước quốc tế về nguồn nước.

  • Phải chuẩn bị hồ sơ pháp lý để sẵng sàng thủ tục tố tụng trong tanh chấp nguồn nước với các quốc gia thượng nguồn.

  • Với đề xuất của anh Long và GS. VTX về việc cải tạo Biển Hồ, là khả thi, vì Biển hồ cung cấp nước cho vùng rộng lớn nông nghiệp phía dưới của Campuchia. vấn đề tài chính, thì CP VN phải chi trả. Để làm việc được với nhau, thì trước tiêng CP VN phải thực tâm trước đã. Những chính sách ngoại giao cũng như sức ép ngoại giao từ phương Tây sẽ làm nền tảng thúc đẩy.

  • Còn ở cấp MRC, thì VN và Mekong VN phải tận dụng thời gian này vẫn còn nhiều chuyên gia phương Tây, và các nhà tài trợ/donors, đẩy nhanh việc đưa yếu tố "dòng chảy môi trường" làm tài liệu legislation tham chiếu bắt buộc.

Vâng như GS VTX đã đề xuất cần thay thay đổi tư duy trồng lúa sang NTTS hoặc các hình thức sản xuất khác, có năng suất lao động cao và lợi nhuận cao để giúp thay đổi đời sống của người nông dân ĐBSCL và toàn quốc nói chung. Việc này đáng lẽ phải được làm từ lâu rồi, hơn 40 năm tài giỏi gì mà cứ bắt người nông dân quanh quẩn "bán mặt cho đất bán lưng cho trời" trên những cánh đồng nhọc nhằn và rẻ mạt.

TS. Nguyễn Thị Hải Yến, CHLB Đức, May 2016