viet ecology
Article Page
Trí thức Việt qua lăng kính “Nghiên cứu thủy điện Mekong-MDS”
TS Nguyễn Thị Hải Yến

Nhầm lẫn đối với mục tiêu và phạm vi nghiên cứu (NC) của MDS

Mục tiêu và phạm vi của MDS (Mekong Delta Studies).  MDS là một nghiên cứu đánh giá tác động của 12 đập thủy điện dòng chính (10 của Lào và 2 của Campuchia) đối với khu vực hạ nguồn là Châu thổ sông Mekong (mà phần chính thuộc lãnh thổ Việt Nam).  Nghiên cứu này được thực hiện bởi nhóm chuyên gia từ Viện Thủy lực DHI của Đan Mạch (Danish Hydraulic Institute) thông qua hợp đồng và giám sát của Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng Ủy ban Mekong Việt Nam.

Trong khi đó một số nhà khoa học của VN hiện nay lại đang rất nhầm lẫn vì cho rằng nghiên cứu (NC) này không thực hiện việc đánh giá tác động của các đập thượng nguồn (uper Mekong) của Trung Quốc (TQ).

Có mấy lý do vì sao phạm vi NC này của MDS lại khoanh vùng đối với ảnh hưởng của 12 đập của Lào và Campuchia mà không bao gồm các đập của TQ: 1) bản thân TQ đã là “con ngựa bất kham” ngay từ đầu từ chối ký kết Hiệp định Mekong 1995 và không tham gia vào MRC. Bằng rất nhiều cách khác nhau, các nhà tài trợ cũng như các nhà chính sách của phương Tây đã cố gắng để đưa TQ vào tham gia, hay tối thiểu nhất là chia sẻ số liệu về lượng mưa, lưu lượng dòng chảy, thông số kỹ thuật của các đập TĐ của TQ, nhưng đều trong vô vọng. Thử hỏi không có số liệu lấy đâu ra mà phân tích. Chính bản thân MRCS kia còn thế, huống chi một NC MDS này.  2) trước thực trạng Lào, một thành viên ký kết Hiệp định Mekong 1995 đang bất chấp tính pháp lý của Hiệp định Mekong 1995 bằng việc thúc đẩy xây hàng loạt các đập TĐ trên dòng chính gần đây. 3) trước sự bất lực của MRCS (Mekong River Commission Secretariat) và  sự  vô trách nhiệm của chính quyền hai nước Việt Nam và Campuchia, nguy cơ Hiệp định Mekong 1995 bị Lào và một phần Thái Lan bỏ vào thùng rác.

Các tổ chức về bảo vệ môi trường thế giới và các nhà tài trợ của các nước phương Tây cùng các Viện-Trường nghiên cứu của quốc tế phải tài trợ cả nguồn nhân lực là ngân sách và nhân lực chất lượng cao để đưa ra những bằng chứng khoa học đáp trả những quyết định ngỗ ngược của chính phủ Lào. Đây cũng là cách nhà tài trợ của các chính phủ phương Tây giới thiệu lộ trình của một phương pháp làm việc cho những chính phủ lười biếng là hãy đừng chỉ ngồi chờ sung từ mấy cái  hiệp định ký kết của những chính phù bất nhất kia, mà việc phải tiếp cận bằng con đường làm NC đưa ra chỉ số khoa học (scientific indications) mới làm điểm then chốt.  Thử hỏi từ năm 2010, khi khuyến cáo của ICEM (International Centre for Environmental Management) sau khi thực hiện  SEA (Strategic Environmental Assessment) rằng việc quyết định xây bất cứ một đập nào trên dòng chính Mekong cũng cần phải trì hoãn ít nhất 10 năm để có thêm số liệu và dẫn chứng khoa học làm cơ sở đánh giá tốt hơn, xem từ đó đến nay, VN nước hạ nguồn đã thúc đẩy được những nghiên cứu nào?

Thiếu kiến thức và/hoặc thiếu công tâm trong phản biện khoa học

Một phương pháp nghiên cứu thuyết phục từ: 

Việc dùng các loại mô hình đặc dụng cho từng mục tiêu và vùng nghiên cứu cụ thể, những dẫn liệu về chọn năm 2007 làm mô hình nền, cũng như chọn năm 1998 (năm có mực nước lũ thấp nhất, thời gian hạn dài nhất và thời điểm lũ trễ nhất) làm mô hình đối chứng đánh giá tác động ảnh hưởng cộng dồn.

Việc chuyển hóa những thông số từ lý tính (dòng chảy/flow, mực nước/water level, trầm tích/sediment…) thành các thông số mang hóa tính và sinh thái/ecological (diện tích ngập-flood/inundated area/ sinh cảnh sống-habitat, thời gian ngập/duration, thời điểm lũ/timing, chỉ số/index, NH4 and PO4...), rồi thành sinh khối (primary production/năng suất thủy vực, sản lượng thủy sản/fish production) có thế mới thấy được ảnh hưởng

Việc đánh giá tổng thể từ toàn lưu vực (basin scale) rồi chi tiết (down-scaling) xuống vùng (regions), vùng sinh thái (ecozones), vùng đập (reservoirs), điểm quan trọng về đa dạng sinh học (hostspot biodiversity sites), các kiều sinh thái đất ngập nước (wetland priorities/classes/types), các loài cá (fish species) giúp chúng ta thấy ảnh hưởng cụ thể mà ở đó có thể cân đong đo đếm được.

Việc sau đó việc từ những cái ảnh hưởng cụ thể, lại tổng hợp lại cho cả lưu vực (upscaling) bằng cách cộng dồn điểm số xếp hạng (ranking), để cho thấy ảnh hưởng tổng thể.

Việc đánh giá ảnh hưởng thủy sản, nhóm chuyên gia này cực chuẩn trong việc lấy kết quả các nghiên cứu chuyên sâu, có hàm lượng khoa học cao đối với vùng NC đưa vào tính toán để ước tính cho tổng thể (vì thường khó lòng để có số liệu quan trắc cho cả một vùng rộng lớn và nhất là ở những khu vực vùng trũng về khoa học và thống kê này).

Việc sử dụng mô hình đánh giá sản lượng nông nghiệp với nhiều thông số môi trường có trọng số (weighting), tương đối chuẩn, áp dụng trong vùng.

Việc phân tích sâu đến các yếu tố về diện tích ngập, thời gian ngập, thời điểm ngập là sự nỗ lực của nhóm chuyên gia trong việc chuyển tải giá trị từ các thông số thủy văn (hydrology) sang các thông số sinh thái ảnh hưởng trực tiếp đến thủy sinh vật, làm cho người đọc không còn cảm thấy lăn tăn đâu đó điều gì chưa cụ thể.

Việc phân tích đối chứng hàm lượng/nồng độ (concentration) của N và P trên và dưới đập cho thấy các đập của Lào sẽ rất có thể bị hiện tượng phú nhưỡng (eutrophication), trong khi đó lưu vực nước hạ nguồn ở VN thì lại bị nghèo hóa về dinh dưỡng, nếu tỷ lệ N/P (N/P đây là chỉ số sinh thái, chứ không phải N:P:K là tỷ lệ phân bón) quá thấp sẽ là chỉ số sa mạc hóa về năng suất thủy vực (Primary production/PP), điều này cho thấy việc xây dựng các đập TĐ sẽ hoàn toàn bẻ gãy quá trình sinh hóa sinh thái tự nhiên của một dòng sông.

Một phương pháp NC như thế nhưng vẫn bị phàn nàn, trong khi đó hai cái báo cáo đánh giá tác động môi trường (EIA) về TĐ Đồng Nai 6 và 6A thì một số chuyên gia đầu ngành này nọ, nguyên cũng như đương chức kia vẫn hung hồn cho rằng là những báo cáo EIA tốt nhất từ trước đến giờ. Tốt nhất nhưng dưới sự phản biện mạnh mẽ của xã hội dân sự, của các chuyên gia độc lập hai dự án TĐ ĐN 6 và 6A vẫn phải loại bỏ. Thử hỏi trách nhiệm của những người ngồi trong hội đồng nghiệm thu của hàng loạt các dự án thủy điện khác (EIA chưa tốt nhất) kia có thấy xấu hổ với lương tâm, trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp?.

Nhóm chuyên gia MDS rất chú trọng việc sử dụng các nguồn số liệu cũng như độ xác thực (accurary) của mỗi dạng số liệu dùng để chạy mô hình. Vì dụ điển hình là nguồn số liệu cho mô hình thủy triều và sóng (tide and wave), họ đã phải dùng số liệu của vùng Singapore với những kiểm chứng với chế độ thủy triều từ Qui Nhơn vào, số liệu dùng phân tích mức độ nhiễm mặn, họ đã phải thẳng tay loại gần hết số liệu các năm và chỉ lấy được số liệu của năm 2008 và 2010, việc phân tích để dùng số liệu năm 2007 làm mô hình nền rất cụ thể. Thế nhưng, một số nhà khoa học, hoặc là chưa đọc đến nơi đến chốn hoặc là thiếu kiến thức nên cứ kết tội nhóm chuyên gia về số liệu này nọ. Hầu hết số liệu dùng cho mô hình là số liệu phải được thu thập từ nhiều năm có tính lịch sử. Nếu nói về chất lượng số liệu thì trách nhiệm không phải là của nhóm chuyên gia MDS này nhé (ngoại trừ một số số liệu họ phải thu thập thêm), mà trách nhiệm với những số liệu này là chính của những người đang dùng tiền thuế của dân làm các nghiên cứu ở các Viện nhé.  Thử hỏi các nhà khoa học có vị thế ở VN từ trước đến nay đã bao giờ nhìn ra được cái sự nghèo nàn và kém chất lượng của số liệu khoa học của VN chưa hay chỉ biết ngồi vỗ tay rào rào tại các hội đồng nghiệm thu? Thay vì lên án những kiểu làm việc vô trách nhiệm, đơn giản mới chỉ bước thu thập số liệu, của chính bản thân những người làm khoa học trong nước, thì lại sẵn sàng hất té trách nhiệm đó vào mặt nhóm chuyên gia MDS.

Nhiều người và chính bản thân nhiều nhà khoa học cũng chưa thoát khỏi những phán xét cảm tính trong khoa học, khi mô hình thủy lực cho kết quả mực nước và dòng chảy sau đập không thay đổi đáng kể, nên vội vàng kết luận mô hình có vấn đề. Chỉ đến khi có ý kiến phân tích là nguyên nhân là do cơ chế vận hành của đập (lưu tích nước 1-2 ngày, và vận hành hết công suất) thì việc phản đối vấn đề này mới dịu xuống. Vâng MDS là một lĩnh vực rộng và khó, đọc bản báo cáo tiếng Việt rất khó hiểu, nếu ai không đọc bản tiếng  Anh sẽ rất khó nắm bắt được ý của báo cáo. Nhưng đã là nhà khoa học thì cần phải có một cái đầu tư duy và những phát ngôn có trách nhiệm và càng không thể kéo tay nhau “lên đồng”.

Một số nhà khoa học thì tung té la lên là mô hình Mike 21 này chỉ dùng cho dòng sông nơi có dòng chảy êm đềm, Mekong thì nhiều gềnh thác Nhưng thực tế vùng nghiên cứu của MDS từ Kratia xuống vùng bờ biển đồng bằng sông Cửu Long là khá bằng phẳng. Vùng ngay dưới Kratie vì quá quyến dũ bởi sự êm đềm của nó, nên nó đã được gọi với cái tên thật mỹ miều đẹp đẽ là central plain of Mekong. DHI chính là cái nôi của mô hình thủy lực Mike, việc nâng cấp mô hình của họ cũng trải dài hàng chục năm. Chính mô hình Ecolab của họ cách đây 10 năm vẫn còn hạn chế và không được khuyến cáo dùng rộng dãi với những người không xây dựng Ecolab. Họ đủ biết cái uy tín của họ về một thương hiệu khoa học trên trường quốc tế hơn là cái khoản tiền họ thu được một lần từ cái MDS này. Rồi sau này cũng chính các nhà khoa học VN lại ngậm ngùi thú nhận là mô hình này đã được nâng cấp sử dụng cho dòng sông có gềnh thác. Thử hỏi thế có phải đang tự đặt giới khoa học VN vào tình trạng “ếch ngồi đáy giếng”?

Việc một số nhà khoa học cằn nhằn rằng tại sao nhóm chuyên gia dùng số liệu này mà không dùng số liệu kia, vì dụ dùng số liệu năm 2007 làm mô hình nền hoặc tại sao không dùng năm 2000 (năm có mực nước lũ cao nhất), cho thấy việc hời hợt trong cách đọc báo cáo, thiếu tính chuyên nghiệp trong phản biện khoa học, và hơn nữa là thiếu kiến thức về thống kê và nguyên tắc xử lý số liệu của một số nhà khoa học VN. Mặc dù đây là những kiến thức nền tảng của bất cứ ai làm và muốn làm khoa học. Thử hỏi vậy thế hệ trẻ trông chờ gì vào những di sản khoa học của nước nhà?

Sự nhầm lẫn trong phân biệt và sử dụng số liệu và kết quả trong khoa học

Trong khoa học những tài liệu/bài báo đăng ở các tạp chí khoa học luôn đòi hỏi số liệu phải có độ chính xác cao vì thế yêu cầu thường rất khắt khe về mô tả phương pháp nghiên cứu, các thí nghiệm, số lần lặp lại thí nghiệm, và các phép thử thống kê (với chỉ số significant P-value), hoặc trong mô hình, đòi hỏi phải có những bước calibration, verification và validation và cũng phải được lặp lại với nhiều bộ số liệu.... Những bài báo này sẽ được đánh giá là có hàm lượng khoa học chuyên sâu và được xếp vào tài liệu khoa học (peer review/ scientific papers). Trong khi đó, những báo cáo đánh giá tổng thể như SEA hoặc EIA được áp dụng cho một vùng cụ thể nó sẽ được xếp vào hàng grey documents, MDS cũng là một loại tài liệu không thuộc mức xếp hạng như trường hợp peer review kia. Những grey documents này được sử dụng cho những mục đích cụ thể ở một nơi cụ thể nào đó, hoặc có thể được trích dẫn tham chiếu cho một trường hợp cụ thể khác, nhưng giá trị trích dẫn của nó rất thấp nếu dùng nó để trích dẫn trong các bài báo khoa học dạng peer review ở trên. Sự đòi hỏi tính chính xác trong khoa học là chính đáng, nhưng không thể nhầm lẫn hoặc đánh đồng các dạng số liệu khoa học, cũng như các loại tài liệu khoa học ở các mục đích khác nhau vào một giỏ.

Vâng số liệu khoa học của VN cũng như các nước trong vùng là hoàn toàn có thể nghi ngờ về chất lượng. Nhưng ai là người phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của số liệu kia?, xin thưa không phải là nhóm chuyên gia MDS này, mà chính là bản thân những người làm khoa học, người duyệt ngân sách làm khoa học, và người nghiệm thu những số liệu này ở VN hoặc gián tiếp nữa là ở cấp độ vùng Mekong MRC tiếp (vì số liệu của MRCS đều do các quốc gia thực hiện). Hơn nữa, việc đánh giá tính chính xác của mô hình có thể được nêu ra trong phản biện này nhưng nó không phải là đúng chỗ để bắt buộc họ và có lẽ cũng không đúng lúc. Nghĩa là, những nhà khoa học VN cho rằng không tin vào kết quả của MDS vì: 1) do số liệu, thì trước mắt và ngay lập tức những vị quan chức nắm đầu khoa học kia phải ngay vào cuộc chấn chỉnh chất lượng số liệu trong NCKH. 2) nếu vì mô hình, thì các nhà chuyên môn sâu về mô hình cần phải có những NC chuyên sâu để có kết quả phản bác ở cấp peer review kia. Các nhà khoa học nghi ngờ về chất lượng mô hình chỉ có quyền phủ nhận kết quả MDS này khi mà họ chứng minh được mô hình này là không chuẩn bằng các dãn chứng khoa học cụ thể và phải được chấp nhận của hệ thống peer review kia. 3) Và hơn lúc nào hết có phải lúc này là lúc “pha loãng” những giá trị của báo cáo MDS này. Tôi tin rằng, nếu đưa báo cáo này cho các chuyên gia quốc tế họ sẽ đánh giá là rất tốt. Ngoại trừ một số điểm như tôi đã chia sẽ trên diễn đàn AIT-VN là cần làm mô hình cho kịch bản nước biển dâng mức 0.5 và 1.0 m; đánh giá ảnh hưởng lâu dài bằng một mô hình toán sự giảm thiểu lũy kế của phù sa dẫn đến mất 50% N và P, làm giảm thụt 50% năng suất thủy vực (primary production), cần áp dụng mô hình 2D cho việc đánh giá sự nhiễm mặn theo phương ngang.

Nhầm lẫn giữa trách nhiệm khoa học và trách nhiệm quản trị

Rất buồn cười khi một số nhà khoa học lại nhầm lẫn hoặc cố tình rũ bỏ trách nhiệm của người VN lên nhóm chuyên gia MDS. Cho rằng, nhóm chuyên gia lại dùng thiết kế tối ưu của đập, nghĩa là turbin hoạt động 100% công suất (peak acting operation) để tính, chính vì thế đã dẫn đến việc dòng chảy và mực nước sau đập không thay đổi đáng kể. Xin thưa, nhóm MDS được thuê đánh giá tác động môi trường, họ có kỹ thuật và trách nhiệm thuần túy là về kỹ thuật, VN và MRCS có trách nhiệm cung cấp số liệu đầu vào, thông số thiết kế đập (lưu trữ nước trong 1-2 ngày) và peak operation là như thế, nhóm chuyên gia không thể tự động thay đổi các thông số này để chạy mô hình. Nếu có chăng, phía thuê hợp đồng có thể trả tiền họ để chạy thêm một mô hình nữa giả sử công suất đập chỉ chạy 50% và để làm hô sơ tham chiếu bên lề chứ không thể sử dụng chính thức. Thực tế trong báo cáo nhóm chuyên gia cũng đã xoáy đến vấn đề này để gợi mở cho những nhà quản lý. Trách nhiệm giải quyết nút thắt này (việc chính phủ Lào hoặc các nhà đầu tư thủy điện điều hành hoạt động của đập thế nào) không phải trách nhiệm là của nhóm MDS phải đi thảo luận với Lào, mà là trách nhiệm của chính phủ Việt Nam trực tiếp là Mekong VN và Bộ TNMT và nó thuộc về trách nhiệm quản trị và cụ thể trong trường hợp này nó là là transboundary notification and management.

Kết: có lẽ vì quá bức xúc trước những kết luận của người đại diện Bộ TNMT và Mekong VN, khi cho rằng ảnh hưởng của các đập này là không lớn nên một số nhà khoa học đã vội vàng và hồ đồ phản ứng chất lượng báo cáo của nhóm chuyên gia. Việc Mekong VN kết luận sai bản chất của báo cáo MDS, vâng đó là chỉ số thảm hại về chất lượng công chức của Bộ TNMT và Mekong VN, họ không những vô trách nhiệm khi phát ngôn như thế, mà còn cho thấy họ không có kiến thức cũng như khả năng đảm trách công việc này. Một báo cáo tốt như thế, tác hại của các đập thủy điện như thế, chưa một tổ chức nào, ngay chính cả cái tổng hành dinh MRCS tiêu ngốn hàng tỷ USD kia cũng chưa làm được một đánh giá như thế mà họ không thấy được. Vì thế, thay vì “văn hóa đổ vấy”, những các nhà khoa học thực thụ hãy giúp Bộ TNMT và Mekong VN mở mắt ra sửa sai tránh đẩy dân tộc VN và đặc biệt là các tỉnh ĐBSCL vào một thảm họa môi trường. Còn nếu không thì họ nên từ chức và chịu trách nhiệm. Và xâu xa nữa là trách nhiệm của Bộ nội vụ trong vấn đề chất lượng công chức.

TS. Nguyễn Thị Hải Yến, CHLBĐ, 2015